Tác giả: Kay Redfield Jamison

Tựa gốc: An Unquiet Mind: A Memoir of Moods and Madness

Tựa Việt: Tâm hồn không tĩnh lặng

Độ dài: 327 trang

Phát hành: năm 2007 NXB Thông tấn

*****

“Năm 1974, tôi 28 tuổi, khi nộp hồ sơ xin làm giáo sư trợ giảng môn tâm thần học tại trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA), tôi đã bị điên từ lâu rồi.Chỉ trong vòng ba tháng, tôi bị điên đến mức không nhận ra nổi. Và đó là sự khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài và tổn hại của tôi chống lại việc sử dụng thuốc….”

Một điều đặc biệt – Kay Redfield Jamison – tác giả của Tâm hồn không tĩnh lặng cũng từng là một trong số những người bị mắc bệnh hưng- trầm cảm nặng, hay nói cách khác, bà cũng từng mắc phải chứng bệnh điên tai quái.

Trên toàn cầu, chứng bệnh rối loạn tâm thần này đã giết chết hàng chục nghìn người mỗi năm. Này là một trạng thái tâm thần đáng sợ nhưng mang lại cảm nghĩ rất tuyệt vời. Này là sự kích động đến cao độ như một đứa trẻ, đồng bóng như một cô gái mới lớn, phiền muộn đến ngã lòng như một thiếu nữ và rồi chìm vào chu kỳ hưng-trầm cảm.

Nạn nhân của chứng bệnh này hầu như là những người trẻ tuổi, trong số họ rất nhiều người có tài và rất thông minh, đều có ích cho xã hội, nhưng chứng bệnh vừa là kẻ thù vừa là người bạn gắn bó quyến rũ chết người ấy sẽ không buông tha tất cả những ai, nếu họ không thể vượt qua được chính mình.

Toàn thể cuốn sách là mẩu truyện về cuộc sống của một người phụ nữ đầy tài năng và nhiệt huyết vừa sống chung với bệnh tật vừa theo đuổi sự nghiệp phân tích khoa học. Trong suốt cuốn sách là lời kể về quá trình của bệnh hưng-trầm cảm với các tình tiết từ nhẹ, hưng phấn, kích thích cho đến u uất, trầm cảm, ức chế, bạo lực và nặng nhất là kéo theo tự tử.

Theo như tiến sỹ Jamison thì:

“Trận chiến chống lại chính mình như tôi không phải là ít gặp. Một vướng mắc lớn trong điều trị hưng trầm cảm ở phòng khám không phải là phòng khám không có những phương thuốc hiệu quả, thực chất là họ có, mà vấn đề là người bệnh không chịu uống thuốc. Tệ hại hơn nữa, do thiếu thông tin, do tư vấn tồi và do sợ tác động đến tên tuổi và nghề nghiệp, người ta thậm chí còn không tìm cách điều trị nữa.

Tâm thần và tư duy lệch lạc của bệnh hưng-trầm cảm có thể dẫn tới những hành vi chết người, phá hủy nền tảng của lý trí và thường làm xói mòn nhu cầu và nguyện vọng được sống. Này là chứng bệnh được bắt nguồn từ nguyên nhân sinh học,nhưng lại chứa trong nó yếu tố tâm lý. Này là một chứng bệnh mới mẻ nếu xét về những lợi thế và niềm hứng thú mà nó mang lại. Tuy nhiên chứng bệnh này cũng dẫn tới những hậu quả nặng nề tới mức không thể chịu đựng nổi và không ít trường hợp kéo theo chết chóc”

Cuốn sách vừa là một lời tâm sự, vừa là lời lý giải cho chứng bệnh về tâm lý rất phức tạp của con người. Không khô khan, dông dài mà thu hút, đầy thuyết phục, bạn sẽ lần theo từng lời kể đi qua từng thời kỳ trong cuộc sống tác giả. Những rạn nứt của một gia đình vốn hạnh phúc, gen di truyền chứng bệnh từ người cha, những thay đổi đột ngột của môi trường sống…vv.. chính là những mầm mống để chứng bệnh manh nha rồi phát triển. Trận đấu tranh quyết liệt giữa bên trong và bên ngoài, sự nỗ lực tỏ sự bình thường trước mọi người để có thể tiếp tục công việc phân tích quả là quá sức gian truân và đầy khổ tâm!

“Tôi xuất hiện trước mọi người một cách vui vẻ và nhiệt tình.Tôi cũng nói chuyện khá bình thường với những người khác. Nhìn bề ngoài có vẻ như tôi vẫn khỏe. Chỉ có chúa mới biết rằng tâm hồn tôi đang chết lặng đi và trái tim tôi đang rỉ máu từ hàng nghìn vết thương.”

Đọc sách, ta hiểu thêm về lithi, những lợi nhuận và tác dụng phụ của thuốc trong quá trình điều trị. Một trong số những lần cực điểm của chứng bệnh khiến người ta xấu hổ và cảm nghĩ vô cùng tội lỗi, nhưng trái lại, một trong những thời kỳ đầu phát bệnh thì trí sáng tạo, óc tưởng tưởng, sức lực và mọi giác quan của các bạn đều được kích thích đến độ hưng phấn. Tư duy nhanh, nhiều ý tưởng, ngủ ít, và công việc làm rất hiệu quả.Còn thuốc chữa trị thì lại làm mất đi các cảm nghĩ ấy, mất đi sự khôi hài, mất khả năng đọc và nhớ mọi thứ, giảm nhu cầu tình dục và đầu óc mệt mỏi.

Đó cũng là nguyên nhân vì sao Kay Jamison cũng như toàn bộ các người bệnh mắc hưng-trầm cảm khác từ chối uống thuốc.Và tất nhiên, chứng bệnh ngày càng trở nên trầm trọng hơn…

Tình yêu, sự tin tưởng và thông cảm của gia đình, đồng bọn đã đóng góp một phần không nhỏ vào nỗ lực vượt qua chính bản thân của Jamison để cuối cùng giành được thắng lợi. Hơn một lần trong cuốn sách đã nói rằng tình yêu không thể chữa khỏi chứng bệnh một cách nhanh chóng, nhưng nó là một liều thuốc xoa dịu cho trái tim. Những mất mát, những nỗi đau sẽ dần vơi đi, cho dù cuộc sống là cả một sự tranh đấu dai dẳng và quyết liệt, thì ở nơi nào đó trong góc riêng của mỗi tâm hồn tình yêu luôn ngự trị, để sẻ chia và kỳ vọng.

Có thể nói Tâm hồn không tĩnh lặng vừa là một mẩu truyện đời, vừa là một đề tài khá lý thú về vấn đề tâm thần học cho những ai muốn biết và hiểu thêm về ngành nghề thú vị này.

“Quá khứ thỉnh thoảng vẫn hiện về và sự cám dỗ muốn trở lại cảm giác hưng phấn trước kia vẫn còn đó, cho dù tần suất đã giảm dần. Tôi ngoái nhìn lại phía sau và vẫn cảm thấy sự hiện diện của một cô gái trẻ, mạnh mẽ và tiếp sau đó là một phụ nữ trẻ hung bạo, gây nhiều phiền toái, nhưng cả hai đều mang trong mình những giấc mơ cao đẹp, làm việc không mệt mỏi và chứa chan khát vọng lãng mạn.”

Sherwin B. Nuland tác giả của Tất cả chúng ta chết như vậy nào: Suy ngẫm về chương cuối cùng của cuộc sống đã nhận xét:

“Tiến sỹ Kay Jamison viết cuốn sách này với tư cách một người bệnh đang lành – một bác sĩ đã trải qua những gì mà người khác chỉ được biết tới qua đào tạo hay phỏng đoán. Bà đã phát hiện ra con đường độc đáo đến với sự sáng suốt trong tình trạng rối loạn thần kinh, một sự sáng suốt nói lên toàn bộ bản chất của con người. Nỗi đau của bà, thằng lợi của bà và lối hành văn độc đáo của bà là món quà mà Kay Jamison tặng cho độc giả. Chúng ta tự hào nhận ra những giá trị vô biên ấy trong cuộc đời của mỗi chúng ta”

Tác giả Kay Redfield Jamison

 

Kay Redfield Jamison là một giáo sư tâm thần học tại trường Đại học Y, thuộc Đại học Johns Hopkins. Tiến sĩ Jamison trước đó từng là giám đốc Bệnh xá rối loạn xúc cảm UCLA.

Bà được bầu là Nữ khoa học xuất sắc nhất của UCLA và nằm trong danh sách những bác sỹ xuất sắc của Mỹ với rất nhiều thành tựu trong sự nghiệp phân tích chứng hưng trầm cảm.

Là tác giả của cuốn sách Đụng vào lửa: bệnh hưng trầm cảm và tính cách nghệ sỹ. Tác giả của 80 nội dung khoa học về chứng rối loạn tâm thần, tự tư, liệu pháp tâm lý và lithi.

Đồng tác giả của sách giáo khoa y học về bệnh hưng-trầm cảm.

PHẦN MỞ ĐẦU

Vào lúc 2 giờ sáng và nếu bạn bị điên thì ngay cả phòng khám của Trường Đại học UCLA cũng trở nên mê hoặc. Bệnh xá này, thường ngày chỉ là những tòa nhà buồn tẻ và rét mướt, thì so với tôi, vào buổi sáng mùa thu của 20 năm về trước là hoàn toàn khác. Nó là tâm điểm của hệ thần kinh sắc sảo và nhạy bén của tôi. Với cánh mũi phập phồng đánh hơi, anten vểnh lên, đôi mắt liếc nhanh và mặt quay nhanh sang mọi hướng, tôi ghi lại mọi hình ảnh ở quanh mình. Tôi đang chạy. Tôi không chỉ chạy, mà còn chạy rất nhanh và tá hỏa, từ đầu này tới đầu kia của bãi đỗ xe trong phòng khám, nỗ lực tiêu hao hết nguồn năng lượng hình như vô tận, không biết mệt và sôi sục trong người. Tôi đang chạy rất nhanh, nhưng lại từ từ chuyển sang trạng thái điên.

Người đàn ông ở bên tôi lúc ấy là một đồng nghiệp trong trường y. Anh đã đứng lại từ một giờ trước đó và như anh nói trong hơi thở gấp, là đã kiệt sức rồi. Những người minh mẫn có vẻ sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng so với hai chúng tôi, sự phân biệt giữa ngày và đêm đã mất từ lâu rồi. Và rõ ràng là chúng tôi đã phải trả giá, nếu không phải là cuối cùng, cho những giờ vô tận với rượu uytxki, với những cuộc cãi vã và những trận cười không ngớt. Lẽ ra vào giờ ấy chúng tôi đang ngủ hay làm việc, đọc tạp chí, vẽ đồ thị hay những biểu đồ khoa học…

Đột nhiên một chiếc xe công an ập tới. Ngay cả với tâm trí không mạch lạc của mình, tôi vẫn có thể nhìn thấy viên công an đặt tay vào bao súng khi anh ta bước ra khỏi xe. “Tại sao các vị lại chạy lung tung trong bãi đỗ xe vào giờ này thế?” anh ta hỏi. Một vài tư duy rời rạc sót lại trong tôi bỗng bật ra, link lại với nhau, đủ để tôi nhận thấy rằng tình huống này là khó có thể giải thích. Thật may là thằng bạn đồng nghiệp của tôi đã nhanh trí trả lời:

Cả hai chúng tôi là giáo viên của khoa tâm thần.” Viên công an nhìn chúng tôi, mỉm cười, quay lại xe và bỏ đi.

Thế đấy, chỉ riêng việc là giáo sư tâm thần đã giải thích được mọi chuyện.

Năm 1974, tôi 28 tuổi, khi nộp hồ sơ xin làm giáo sư trợ giảng môn tâm thần học tại Trường đại học California ở Los Angeles (UCLA), tôi đã bị điên từ lâu rồi. Chỉ trong vòng 3 tháng, tôi bị điên tới mức không nhận thấy nổi. Và này là sự khởi đầu của trận đấu tranh lâu dài và tổn hại của tôi chống lại việc sử dụng thuốc, trong lúc chỉ vài năm sau đó tôi đã khuyến khích người khác dùng thuốc. Bệnh tật và cuộc vật lộn với thuốc, sau nhiều năm khổ cực, cuối cùng đã cứu cuộc sống tôi và khôi phục sự tỉnh táo trong tôi.

Từ rất lâu rồi, tôi đã rơi vào trạng thái tâm thần rất đáng sợ, nhưng cũng rất tuyệt vời. Này là sự kích động đến cao độ như một đứa trẻ, đồng bóng như một cô gái mới lớn, phiền muộn đến ngã lòng như một thiếu nữ và rồi chìm vào chu kỳ hưng-trầm cảm. Khi tôi khởi đầu sự nghiệp giáo sư thì cũng là lúc tôi trở thành học trò của tâm thần, do cả hoàn cảnh lẫn tri thức. Này là đoạn đường duy nhất để tôi hiểu, và thực tiễn là đồng ý chứng bệnh của mình. Đó cũng là đoạn đường duy nhất để tôi có thể tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của những người đang bị rối loạn tâm thần. Chứng bệnh mà đã suýt giết chết tôi một vài lần này đã giết chết hàng chục nghìn người mỗi năm. Nạn nhân của nó hầu như là những người trẻ tuổi. Hầu như trong số họ không nhất thiết phải chết và nhiều người là những người có tài và rất thông minh trong xã hội tất cả chúng ta.

Người Trung Quốc tin rằng trước khi bạn có thể thuần phục được thú dữ thì bạn phải nhìn thấy nét đẹp trong nó. Thật kỳ lạ, tôi đã ứng dụng cách làm này so với chứng bệnh hưng-trầm cảm của mình. Chứng bệnh này vừa là kẻ thù, vừa là bạn gắn bó quyến rũ, mà chết người. Tôi phát xuất hiện rằng việc phân loại cái gì là tốt nhất và cái gì là nguy hiểm nhất trong bản chất của mình là một công việc phức tạp mà mê hoặc. Để có thể thắng lợi bệnh tật, trước hết tôi phải hiểu mọi trạng thái tâm thần, cũng như mọi sự trá hình của nó, nghĩa là phải hiểu sức mạnh thực và sức tưởng tượng của nó. Vì chứng bệnh của tôi lúc đầu có vẻ chỉ như là sự mở rộng của tâm trạng, sinh lực và sự phấn khích của chính mình, nên thỉnh thoảng tôi đã quá khinh nhờn nó. Và do lúc đầu tôi nghĩ rằng tôi có thể kiểm tra được tâm trạng kích động, mà ngày càng có xu thế bạo lực của mình, nên tôi đã không tìm kiếm bất kì một phương pháp điều trị nào trong suốt 10 năm trước nhất. Ngay cả khi chứng bệnh của tôi đã phát triển đến mức phải điều trị nguy cấp thì thỉnh thoảng tôi cũng vẫn tìm cách tránh uống thuốc, mặc dù cả những điều tôi được học trong nhà trường lẫn các công trình phân tích y học cùng nói rằng thuốc là đoạn đường tốt nhất để có thể ứng phó với chứng bệnh của tôi.

Bệnh điên của tôi, tối thiểu là trong thời kỳ đầu và ở dạng nhẹ, là trạng thái rất mê li, nó tạo ra sự mãn nguyện, làm cho dòng tư duy cứ thế tuôn trào và tạo ra nguồn năng lượng vô tận, giúp tôi chuyển tải những ý tưởng mới vào các nội dung và các công trình phân tích. Uống thuốc sẽ không chỉ làm mất đi xúc cảm mạnh mẽ và thăng hoa này, mà còn tạo ra những phản ứng phụ không thể đồng ý được. Phải rất lâu sau tôi mới nhận thấy rằng những năm tháng và quan hệ đã mất là không thể khôi phục được, những tổn thất mà chứng bệnh này gây ra cho chính mình và những người khác không phải khi nào cũng được bù đắp.

Trận chiến chống lại chính mình như tôi không phải là ít gặp. Một vướng mắc lớn trong điều trị bệnh hưng-trầm cảm ở phòng khám không phải là phòng khám không có những phương thuốc hiệu quả, thực chất là họ có, mà vấn đề là người bệnh không chịu uống thuốc. Tệ hại hơn nữa, do thiếu thông tin, do tư vấn tồi và do sợ tác động đến tên tuổi và nghề nghiệp, người ta thậm chí còn không tìm cách điều trị nữa. Tâm thần và tư duy lệch lạc của bệnh hưng-trầm cảm có thể dẫn tới những hành vi chết người, phá hủy nền tảng của lý trí và thường là làm xói mòn nhu cầu và nguyện vọng được sống. Này là chứng bệnh bắt nguồn từ nguyên nhân sinh học, nhưng lại chứa trong nó yếu tố tâm lý. Này là một chứng bệnh mới mẻ nếu xét tới những lợi thế và niềm hứng thú mà nó mang lại. Tuy nhiên, chứng bệnh này cũng dẫn tới những hậu quả nặng nề tới mức không thể chịu đựng nổi và không ít trường hợp kéo theo chết chóc.

Tôi may mắn không bị chết vì chứng bệnh của mình. Tôi may mắn được điều trị bằng những liệu pháp y học tốt nhất khi đó. Và tôi may mắn có được những người bạn, những đồng sự và gia đình tận tâm. Cũng cũng chính vì nguyên nhân này mà tôi đã nỗ lực đến mức cao nhất để mang toàn bộ những trải nghiệm của chính mình vào các công trình phân tích, vào bài giảng, vào điều trị trong phòng khám và vào công tác tư vấn. Thông qua các nội dung và bài giảng của mình, tôi kỳ vọng có thể thuyết phục được các đồng sự của mình về những nghịch lý của chứng bệnh này, này là nó vừa có thể giết người, vừa có thể sáng tạo. Cùng với nhiều người khác, tôi đã nỗ lực làm thay đổi thái độ của công chúng so với bệnh tâm thần nói chung và bệnh hưng-trầm cảm nói riêng. Việc đan kết những phép tắc khoa học của tri thức với thực tiễn sinh động qua những trải nghiệm của chính bản thân mình mình thỉnh thoảng cũng rất khó khăn. Tuy nhiên, chính nhờ phối hợp xúc cảm của mình với những tri thức của y khoa mà tôi cảm thấy mình có thể sống theo cách mà mình muốn và rút ra được những kinh nghiệm thiết yếu để có thể làm thay đổi nhận thức của công chúng và phương pháp điều trị trong phòng khám.

Tôi đã rất đắn đo khi viết một cuốn sách mô tả cụ thể trận chiến của chính mình chống lại bệnh điên, chứng trầm cảm và rối loạn tâm thần, cũng như khi phải thừa nhận nhu cầu điều trị lâu dài bằng thuốc. Các nhân viên phòng khám rất miễn cưỡng cho người khác biết về những vấn đề tâm thần của mình, vì những nguyên nhân rất rõ ràng, này là giấy phép hành nghề và đặc ân của phòng khám. Những đắn đo ấy là xác đáng. Tôi không biết việc thảo luận một cách công khai những vấn đề này về lâu dài sẽ tác động như vậy nào tới cuộc sống và sự nghiệp của tôi, nhưng cho dù hậu quả thế nào đi chăng nữa, điều đó vẫn tốt hơn là im lặng. Tôi chán ghét sự che giấu, chán ghét sự uổng phí, chán ghét thói đạo đức giả và chán ghét việc phải hành động như là mình đang có điều gì đó phải che giấu. Con người phải sống với chính mình và bất kì sự che giấu nào ẩn sau những bằng cấp, danh hiệu hay bất kì thứ gì khác, cũng đều là không thật thà. Sự che giấu đó có thể là thiết yếu, nhưng vẫn là không thật thà. Tôi vẫn còn đắn đo về quyết định công khai chứng bệnh của mình. Tuy nhiên, một trong những lợi thế của việc mắc chứng hưng-trầm cảm trong hơn 30 năm qua là nó làm cho tôi thấy rằng hình như chỉ có rất ít việc làm quá khó khăn. Điều này cũng giống với vượt qua Cầu Vịnh (Cất cánh Bridge) khi trời mưa bão vậy. Người ta có thể lo sợ khi tiến về phía trước, nhưng không thể quay lại. Tôi tự thấy an ủi phần nào khi nhớ tới thắc mắc rất cơ bản của Robert Lowell: Vì sao không nói rõ chuyện gì đã xảy ra?

PHẦN I

MÀU XANH HOANG DẠI PHÍA XA

LÊN TẬN MẶT TRỜI

Tôi đứng đó, ngửa đầu ra phía sau, môi cắn chặt bím tóc đuôi sam và lắng nghe tiếng phản lực gầm rú trên đầu. Tiếng rít chói tai một cách khác thường. Điều đó có nghĩa là máy cất cánh cất cánh rất thấp. Trường tiểu học của tôi ở sát Căn cứ không quân Andrew, ngay ngoại ô Washington. Phần lớn chúng tôi là con cháu của các phi công, nên những tiếng ầm ĩ này chỉ là chuyện thường ngày. Dù vậy, nhưng với chúng tôi nó vẫn có sức lôi cuốn kỳ diệu. Từ sân chơi, tôi vẫn thường ngẩng mặt lên nhìn và vẫy tay. Tất nhiên, tôi biết viên phi công ấy không nhìn thấy tôi. Tôi cũng biết rằng ngay cả khi viên phi công ấy có nhìn thấy tôi chăng nữa thì chắc gì đó đã là bố tôi. Tuy nhiên, này là việc người ta vẫn thường làm, còn tôi thì tôi yêu thích bất kì nguyên nhân gì để được ngước nhìn lên khung trời. Bố tôi là một sỹ quan không quân chuyên nghiệp, nhưng trước hết và trên hết ông là một nhà khoa học, thứ hai mới là phi công. Tuy nhiên, ông rất thích cất cánh. Vì là một nhà khí tượng học nên trí não và đầu óc ông lúc nào cũng ở trên trời xanh. Giống như bố tôi, tôi nhìn lên trời không phải chỉ để nhìn.

Khi tôi nói với bố tôi rằng lục quân và hải quân có trước không quân rất lâu và vì vậy mà có nhiều truyền thống và kỳ tích hơn, thì bố tôi nói: Đúng thế, nhưng không quân là tương lai. Sau đó khi nào ông cũng nói thêm rằng: Và tất cả chúng ta có thể cất cánh. Sau khoảng thời gian tuyên bố như một tín điều ấy, ông thường hát bài hát đầy phấn khích của không quân, mà cho tới tận hiện giờ tôi vẫn còn nhớ một số đoạn. Nó cùng với một số đoạn trong bài hát mừng Giáng sinh, những bài thơ trước nhất và một số đoạn trong Kinh nguyện cầu, đã để lại trong tâm hồn tôi những rung động từ thời trẻ thơ và hiện giờ mỗi khi nhớ tới, trái tim tôi vẫn đập nhanh hơn.

Tôi nghe và tôi tin, và mỗi lần nghe thấy câu hát “Nào hãy bay lên bầu trời trong xanh bao la” thì tôi lại nghĩ rằng “trong xanh”’ và “bao la” là những từ tuyệt vời nhất. Tương tự như vậy, tôi luôn cảm thấy rất phấn khích mỗi khi nghe thấy câu “Cao cao nữa lên, lên tận mặt trời”. Và tôi biết rằng tôi là một trong số những người yêu khung trời trong xanh bạt ngàn.

Tiếng rít của chiếc máy cất cánh phản lực nghe càng lớn và những đứa bạn trong lớp hai của tôi đột nhiên chạy nháo lên. Chiếc máy cất cánh lao tới rất thấp, lướt qua đầu chúng tôi và không kịp hạ cánh xuống sân cất cánh nữa. Khi chúng tôi đang túm lại cùng nhau hoảng sợ thì nó lao vào cây, bùng phát ngay trước mắt chúng tôi. Chúng tôi cảm thu được sức ép và nghe thấy tiếng nổ kinh khủng của vụ máy cất cánh rơi. Sau này là cột lửa bùng lên thật đáng sợ. Hình như chỉ vài phút sau đó, các bà mẹ đã tràn vào sân, vỗ về bọn trẻ chúng tôi rằng đó không phải là bố của chúng. Thật may cho anh tôi, chị tôi và tôi, đó cũng không phải là bố chúng tôi. Vài ngày sau đó, mọi chuyện đều rõ ràng. Trong lời nhắn cuối cùng của viên phi công trẻ về đài lãnh đạo trước khi chết, anh ta nói rằng anh ta tuyệt đối có thể tự cứu mình, bằng cách nhảy ra ngoài máy cất cánh. Nhưng nếu làm như vậy, chiếc máy cất cánh không được điều khiển có thể rơi xuống sân chơi và giết chết bọn trẻ.

Viên phi công tử nạn ấy trở thành một người hùng và là một hình tượng sống động. Này là một hình tượng mê hoặc và ám ảnh tôi mãi. Ký ức về vụ tai nạn ấy đã trở lại trong tôi rất nhiều lần trong nhiều năm, như một lời nhắc nhở vì sao con người ta lại ngưỡng mộ và cần tới những hình tượng ấy. Từ chiều hôm đó trở đi, mỗi khi nhìn lên trời xanh, tôi không chỉ thấy nó mênh mông và đẹp đẽ nữa, mà còn nhìn thấy cả chết chóc luôn rình rập ở nơi xa thẳm ấy.

Giống như mọi gia đình quân nhân, chúng tôi phải di chuyển qua rất nhiều nơi. Đến năm học lớp 5, anh tôi, chị tôi và tôi đã phải trải qua 4 trường tiểu học khác nhau. Chúng tôi đã sống ở Florida, Puecto Rico, California, Tokyo và thủ đô Washington hai lần. Tuy nhiên, bố mẹ tôi, nhất là mẹ tôi, đã nỗ lực giữ cho cuộc sống của gia đình được đảm bảo, ấm cúng và ổn định. Anh trai tôi là con cả trong nhà và là người kiên định nhất trong ba chúng tôi. Anh cũng là đồng minh tin cậy của tôi, cho dù anh hơn tôi ba tuổi. Tôi coi anh như một thần tượng và thường bí mật theo anh mỗi khi anh cùng đám bạn ra sân chơi bóng chày hoặc lang thang sang khu láng giềng. Anh thông minh, công bình và tự tin. Tôi luôn có cảm nghĩ được bảo vệ mỗi khi ở gần anh. Mối quan hệ của tôi với chị gái, người chỉ nhiều hơn tôi 13 tháng tuổi, thì phức tạp hơn nhiều. Chị rất xinh, với mái tóc đen và đôi mắt tuyệt vời. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã luôn nhìn những gì đang diễn ra xung quanh mình một cách tiêu cực. Chị có nghị lực, tính khí mạnh mẽ, nhưng xấu chơi, hay thay đổi và không thông cảm với lối sống bảo thủ của quân đội, mà chị cho là đã giam giữ toàn bộ chúng tôi. Chị có cuộc sống riêng của mình, ương ngạnh và sẵn sàng sống tự do, buông thả ở bất cứ nơi đâu vào bất kì lúc nào có thể. Chị ghét trường trung học và khi chúng tôi sống ở thủ đô Washington, chị thường trốn học để đi bảo tàng Smithsonian, bảo tàng quân y hoặc đơn giản chỉ là đi uống bia hay hút thuốc lá với đồng bọn.

Chị bực tức với tôi, vì nghĩ rằng tôi là đứa “được cưng chiều.” Chị cho rằng tôi, một đứa em gái quá dễ kết thân và dễ hoàn thiện bài vở ở trường, đang có cuộc sống quá thoải mái mà chẳng cần phải vất vả gì nhiều và được bảo vệ nhờ cái nhìn lạc quan ngớ ngẩn về con người và cuộc sống. Đứng giữa anh tôi, một vận khuyến khích năng khiếu và luôn đạt điểm tối đa trong những năm đại học, và tôi, một người về cơ bản là ham học, nhiệt tình tham gia thể thao và các hoạt động với đồng bọn và trường lớp, chị trở thành một người ngang bướng, chống lại cái mà chị cho là một toàn cầu khó khăn và vất vả. Chị chán ghét cuộc sống của quân đội, chán ghét việc phải thường xuyên di chuyển và luôn phải kết thân với những người mới. Chị cho rằng phép lịch sự trong nhà chỉ là đạo đức giả.

Có vẻ nhờ tôi không phải vật lộn chống lại tâm trạng u ám trong mình cho tới tận khi tôi trưởng thành nên tôi đã có một khoảng thời gian khá dài sống trong những điều tốt đẹp, ít bị đe dọa và so với tôi, này là một toàn cầu tuyệt vời. Tôi nghĩ chị tôi đã không khi nào nghe đến toàn cầu này. So với tôi, phần lớn khoảng thời gian dài và trọng yếu của thời thơ ấu và những năm đầu của thời thiếu nữ là rất hạnh phúc. Nó tạo thành nền tảng nhiệt tình, thân thiện và tin cậy vững chắc trong tôi. Nó là tấm bùa hộ mệnh đầy uy lực, một sức mạnh tích cực và hiệu nghiệm giúp tôi chống lại những điều xấu số sau này. Chị tôi đã không có được những năm tháng ấy và cũng không có được tấm bùa hộ mệnh như vậy. Có vẻ vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi tôi và chị tôi cùng phải đương đầu với những khó khăn của riêng mình, thì chị tôi coi những điều tồi tệ ấy là từ bên trong, như một phần của chính cuộc sống chị, một phần của gia đình và toàn cầu, còn tôi thì lại coi đó như là một thứ ngoại lai, một thế lực từ bên ngoài đang tuyên chiến với bản chất tự nhiên của tôi.

Giống như bố tôi, chị tôi lẽ ra phải là một người duyên dáng, với những nét tươi tắn, mới mẻ và rất dí dỏm. Chị cũng được Trời phú cho khiếu thẩm mỹ tuyệt vời. Chị không phải là người dễ dãi, hay gặp những điều rắc rối. Những rắc rối của chị cứ lớn dần theo tuổi tác. Tuy nhiên, chị lại có trí tưởng tượng và tâm hồn rất nghệ sỹ. Chị có thể chọc giận và kích động bạn tới mức khó có thể chịu đựng nổi. Dù vậy tôi vẫn luôn cảm thấy như mình là một phần của toàn cầu giận dữ trong chị.

Bố tôi thì mỗi khi can hệ vào chuyện gì là như bị hút vào việc đó. Ông là một người sôi nổi, vui vẻ và thích tìm hiểu mọi chuyện và có khả năng mô tả những nét đẹp và những hiện tượng của toàn cầu tự nhiên một cách rất thú vị và mới mẻ. So với ông, một bông tuyết không khi nào chỉ là một bông tuyết, và một đám mây không phải chỉ là một đám mây. Chúng trở thành những sự kiện, những nhân vật và một phần của vũ trụ dễ thương và kỳ dị. Khi có thời gian, và vào lúc ông cao hứng, sự phấn khích trong ông hình như nhiễm sang mọi thứ. Âm nhạc sẽ tràn ngập ngôi nhà và một đồ trang sức mới tuyệt diệu nào đó sẽ xuất hiện, có thể này là một chiếc dây chuyền bằng đá trắng, một chiếc vòng tay bằng hồng ngọc mài, hay một chiếc mặt dây chuyền hợp mốt bằng đá màu xanh nước biển nằm giữa vòng vàng. Khi đó toàn bộ chúng tôi thường sẵn sàng lắng nghe, vì biết rằng chúng tôi sắp được nghe một bài diễn thuyết dài về điều đã làm cho ông hứng thú. Thỉnh thoảng, này là một bài thuyết trình về niềm tin cho rằng tương lai và sự cứu rỗi của toàn cầu này được tìm thấy trong một chiếc cối xay gió. Thỉnh thoảng, này là lời giải thích rằng cả ba anh em chúng tôi nên học tiếng Nga, chỉ bởi vì thơ Nga quá hay.

Một lần, bố tôi đọc ở nơi nào đó nói rằng George Bernard Shaw có nguyện vọng dành số vốn của mình vào việc phát triển hệ ngữ âm quốc tế và ông yêu cầu vở Androcles và con hổ phải là vở kịch trước nhất của ông được chuyển ngữ. Thế là sau đó, toàn bộ chúng tôi và những người cất cánh cùng với bố tôi đã được nhận những cuốn Androcles. Người nhà tôi đồn rằng bố đã mua tới gần một trăm cuốn sách ấy để phân phát cho mọi người. Tính tình cởi mở của ông, mà tôi rất yêu thích, rất dễ lan sang mọi người. Cho tới tận hiện giờ tôi vẫn phải mỉm cười mỗi khi nhớ tới việc bố tôi đọc to đoạn Androcles chữa trị vết thương ở vuốt hổ, còn những người lính thì hát to “Ném chúng cho hổ”, dựa vào điệu nhạc của “Tiến lên, Những người lính của Chúa”. Thỉnh thoảng bố tôi cũng diễn thuyết về tầm trọng yếu sống còn của việc phiên âm quốc tế ngữ. Cho tới tận ngày nay tôi vẫn giữ một con ong nghệ to bằng sứ trong văn phòng của mình và nó cũng làm cho tôi phải bật cười mỗi khi nhớ tới cảnh bố tôi nhấc nó lên, đổ mật ong đầy đến miệng, rồi làm động tác cho nó cất cánh trên không, giống như hàng loạt kỹ thuật cất cánh phản lực khác nhau, trong đó có cả kiểu cất cánh vòng xoắn mà bố tôi yêu thích và khá thành thục. Tất nhiên khi con ong cất cánh chúc đầu xuống, thì mật ong trong đó đổ tràn vào bàn ăn. Mẹ tôi lại gào lên: “Ông tướng ơi, sao lại thế? Anh đang đầu têu cho bọn trẻ bắt chước đấy”. Chúng tôi khúc khích cười tán thưởng và mỗi lần như vậy, con ong thế nào cũng cất cánh thêm vài phút nữa.

Điều đó thực sự làm cho bố tôi thích thú. Nhiều năm sau, bố tôi tặng tôi một chiếc vòng tay, trên đó khắc câu nói của Micheal Faraday. Câu nói này cũng được khắc trong toà nhà vật lý của Trường Đại học UCLA: “Không có gì là quá phi thường tới mức không thể trở thành sự thật”. Ai cũng biết Faraday có rất nhiều phát minh, nhưng câu nói này của ông lại không đúng đắn. Dù vậy, tư tưởng trong câu nói này lại rất dễ thương và cũng rất giống với tâm trạng của bố tôi mỗi khi ông phấn khích. Mẹ tôi nhiều lần nói rằng bà luôn cảm thấy bà chỉ là cái bóng của sự hóm hỉnh, mê hoặc, say mê và đầy trí tưởng tượng của bố tôi. Bà nhận thấy rằng bố tôi có sức lôi cuốn kỳ lạ so với đồng bọn của tôi và những đứa trẻ hàng xóm của chúng tôi. Tuy nhiên, mẹ tôi luôn là người bạn tâm tình để đồng bọn tôi có thể ngồi xuống trò chuyện. Tóm lại chúng tôi chơi với bố, nhưng trò chuyện với mẹ.

Mẹ tôi có một niềm tin tuyệt đối rằng trong cuộc sống điều trọng yếu không phải là người ta được chia những con bài nào, mà là chơi những con bài đó như vậy nào. Bà là con bài cao nhất mà tôi được chia. Bà là người tốt bụng, thẳng thắn và rộng lượng. Bà là người rất tự tin, một sự tự tin được ông bà ngoại tôi nâng niu và chăm sóc. Bản thân ông bà ngoại tôi cũng là những người tốt bụng, thẳng thắn và rộng lượng. Ông ngoại tôi từ trần trước khi tôi sinh ra. Ông là giáo sư đại học, mặc dù ông vốn được huấn luyện để trở thành nhà vật lý. Xét dưới mọi khía cạnh, ông là một người hóm hỉnh và rất tốt bụng với cả các học trò lẫn đồng sự của mình. Bà ngoại tôi là một phụ nữ nồng hậu và chăm sóc mọi việc. Giống như mẹ tôi, bà rất quan tâm tới mọi người, vì vậy bà rất dễ kết thân và có khả năng tuyệt vời trong việc làm dịu mối bận tâm của người khác. Mọi người khi nào cũng tìm đến với bà, cũng tương tự như mẹ tôi vậy, và họ không khi nào bị từ chối trò chuyện vì nguyên nhân thiếu thời gian hay bận rộn.

Bà ngoại tôi không phải là một trí thức. Khác với ông tôi, người vẫn dành rất nhiều thời gian cho việc đọc sách, và đọc đi đọc lại nhiều lần các tác phẩm của Shakespeare và Twain, bà tham gia các câu lạc bộ. Là một người có năng khiếu tổ chức, bà luôn được bầu quản lý tịch của bất kì câu lạc bộ nào mà bà tham gia. Bà là một người bảo thủ, xét dưới nhiều góc độ, là thành viên của đảng Cộng hoàn thiện viên của Hội Con gái các nhà cách mạng Mỹ và thích tham gia hội uống trà. Bố tôi không thích những chuyện này. Tuy nhiên, bà là một người hiền từ và kiên định. Bà thích mặc quần áo hoa, sơn móng tay và người lúc nào cũng nức mùi xà phòng thơm. Bà là một người nhân hậu, một người tuyệt vời.

Mẹ tôi, một người cao, gầy và xinh, luôn được mọi người yêu mến cả ở trong trường phổ thông lẫn trường đại học. Những bức ảnh trong album của bà cho thấy bà là một người hạnh phúc, thường được đồng bọn vây quanh, chơi tennis, bơi, đánh kiếm, cưỡi ngựa và tham gia các hoạt động của hội nữ sinh. Bà có vẻ hơi kênh kiệu trong những bức ảnh chụp cùng những thằng bạn khá đẹp trai. Những bức ảnh ấy được chụp vào những thời khắc khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng chúng đều cho thấy bà đã có một quãng đời rất thoải mái. Những bức ảnh ấy không hề báo trước những điều không may, không hề có nét u sầu hay phiền muộn và cũng không hề có dấu hiệu của một nội tâm không ổn định. Bà tin rằng nếu có một điềm báo nào đó thì nó phải trổ tài qua những bức ảnh ấy, cũng như bắt nguồn từ các thế hệ trước của bà, những người vốn tin cậy, kiên định, đáng trân trọng và có cuộc sống thuận lợi.

Hàng thế kỷ ổn định ấy tích tụ trong gian của bà chỉ giúp bà phần nào trong việc chuẩn bị ứng phó với những bất ổn và khó khăn mà mẹ tôi phải đương đầu khi rời ngôi nhà của ông bà ngoại để khởi đầu cuộc sống gia đình riêng. Tuy nhiên, chính với đức tính kiên định và quyết tâm khắc phục mọi việc, với tình yêu vô bờ và khả năng tuyệt vời trong việc học hỏi, lắng nghe và sẵn sàng thay đổi, mẹ tôi đã hỗ trợ tôi vượt qua những năm tháng đớn đau và đầy ác mộng sau này. Chắc nịch là bà không thể hình dung ra những khó khăn khi phải đương đầu với bệnh điên. Bà, cũng như toàn bộ chúng tôi, không ai sẵn sàng để ứng phó với bệnh điên cả. Tuy nhiên, với tình yêu và lòng tốt bụng, bà đã ứng phó với chứng bệnh của tôi với tất sự thấu hiểu và trí thông minh.

Cả bố và mẹ tôi cùng khuyến khích sở thích làm thơ, viết các vở kịch ở trường, theo đuổi khoa học và nghề y của tôi. Không ai ngăn cản những ước mong của tôi và họ rất tinh tế trong việc nói cho tôi biết sự khác biệt của các thời kỳ mà tôi cần phải quyết tâm hơn để vượt qua. Tuy nhiên, trong hầu như các thời kỳ tôi thường được họ khoan dung và nhân nhượng. Nhờ được hưởng tình yêu nồng nàn và mạnh mẽ này, mà tôi đã nghĩ rằng chúng tôi cần phải nuôi một con lười, như là một loài vật yêu quý trong nhà. Mẹ tôi không nhiệt tình lắm với ý định nuôi một loài vật hoang dại trong nhà. Bố tôi thì thuyết phục tôi tìm hiểu thêm sách khoa học và sách hướng dẫn về con lười. Ông gợi ý rằng, ngoài việc tìm hiểu những thông tin rõ ràng về nhu cầu ăn uống, không gian thiết yếu để lười sinh sống và những bệnh tật hay mắc của nó, tôi cũng nên viết một số bài thơ về con lười và những bài luận văn về nó, thiết kế nơi nuôi nó trong ngôi nhà của chúng tôi và viết ra những cụ thể về hành vi của con lười trong vườn bách thú. Ông nói, nếu tôi làm được toàn bộ những việc ấy, bố mẹ sẽ xem xét việc tìm mua cho tôi một con lười.

Tôi tin rằng cả hai người đều biết đây chỉ là ý tưởng kỳ quặc của tôi mà thôi và nếu tạo được cho tôi cách khác để trổ tài lòng nhiệt tình của mình, thì có thể tôi sẽ không đòi hỏi nữa. Tất nhiên là họ đã đúng và điều này chỉ đẩy tôi tới chỗ phải xem xét kỹ hơn những con lười trong vườn bách thú mà thôi. Tôi chưa từng gặp bất kì điều gì buồn chán hơn là ngắm nghía một con lười, ngoại trừ xem môn thể thao cricket hay theo dõi cuộc họp của Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện trên kênh truyền hình C-SPAN. Và tôi chỉ cảm thấy thoải mái khi trở về với toàn cầu của con chó tôi đang nuôi.

Tuy nhiên, niềm say mê y học của tôi là vững chắc hơn và bố mẹ tôi cũng khuyến khích tôi trong việc này. Khi tôi khoảng 12 tuổi, họ mua về cho tôi dụng cụ phẫu thuật, một chiếc kính hiển vị và cuốn Thuật phẫu thuật của Gray. Cuốn sách này rất phức tạp, nhưng nó giúp tôi hình dung ra y học thực tiễn ra sao. Thế là chiếc bàn bóng bàn trong tầng hầm trở thành phòng thử nghiệm của tôi và chiều nào tôi cũng miệt mài ở đó mổ xẻ những con ếch, cá, giun và rùa. Chỉ đến khi tôi chuyển sang phân tích những loài động vật cao hơn và được người ta cho một thai nhi lợn, mà cái mõm nhỏ nhắn và bộ lông của nó cuối cùng đã làm cho tôi mệt lả, tôi mới chịu chia tay với toàn cầu phẫu thuật. Các bác sỹ trong phòng khám Căn cứ không quân Andrew, nơi tôi làm tự nguyện viên giúp việc cho nữ hộ sinh vào những ngày cuối tuần, đã mang cho tôi những con dao mổ, kẹp cầm máu, một số thứ khác nữa và cả những ống máu để tôi phân tích thử nghiệm ở nhà. Điều trọng yếu hơn là họ đã đón nhận tôi và cả sở thích của tôi một cách rất nghiêm túc. Họ chưa khi nào làm cho tôi mất hứng thú trở thành bác sỹ, cho dù vào thời ấy, phụ nữ thường chỉ làm y tá. Họ cho tôi đi cùng để xem xét và thậm chí trợ giúp họ trong những ca phẫu thuật đơn giản. Tôi xem xét kỹ việc họ khâu vết thương, thay băng và lấy dịch tủy ở sống lưng. Tôi giữ dụng cụ, theo dõi vết thương và đã một lần được phép tự tay tháo chỉ khâu cho một người bệnh mổ ở vùng bụng.

Tôi tới phòng khám từ rất sớm và trở về rất muộn, mang theo những cuốn sách và biết bao thắc mắc trong đầu: Nếu trở thành sinh viên y khoa thì sẽ ra sao? Khi sinh con thì thế nào nhỉ? Khi sắp chết thì thế nào? Tôi rất quan tâm tới những điều này, bởi vì một trong các bác sỹ đã cho phép tôi tham gia một phần của ca mổ tử thi, một việc kỳ lạ và kinh khủng. Tôi đứng cạnh chiếc bàn mổ tử thi, nỗ lực không nhìn vào thi thể nhỏ nhắn trần như nhộng của một đứa trẻ, nhưng không thể cưỡng lại nổi. Căn phòng sặc mùi khí ngửi. Chỉ có tiếng nước chảy và bàn tay thoăn thoắt của bác sỹ phân tích bệnh học mới làm cho tôi lãng quên một tí. Cuối cùng, để tránh phải nhìn vào những gì tôi đang thấy, tôi tự đặt cho mình hết thắc mắc này đến thắc mắc khác và tự trả lời. Vì sao nhà phân tích bệnh học lại thực hiện vết cắt này? Vì sao ông đeo găng tay? Những phần của thể xác được cắt ra ấy sẽ mang đi đâu? Vì sao có những phòng ban nặng, phòng ban khác lại nhẹ?

Lúc đầu đó chỉ là phương pháp để tôi tránh né những điều kinh khủng đang diễn ra trước mắt mình, nhưng sau đó, trí tò mò đã trở thành một động lực trong tôi. Tôi khởi đầu tập trung vào các thắc mắc và không nhìn vào thi thể đang bị mổ xẻ nữa. Kể từ đó, cũng như hàng nghìn lần sau này, trí tò mò đã mang tôi đến chỗ tuy không hoàn toàn kiểm tra được xúc cảm của mình, nhưng nó đã cùng với những tư duy khoa học, giúp tôi tạo ra được một khoảng cách thiết yếu để xoay xở, làm chệch hướng sự Note, suy ngẫm và tiếp tục đi lên. 

Năm 15 tuổi, tôi cùng với nhóm tự nguyện viên trong phòng khám đi St. Elizabeths, thăm phòng khám tâm thần của liên bang ở thủ đô Washington. Chuyến du ngoạn ấy đã để lại trong tôi nỗi sợ hãi hơn nhiều so với khi chứng kiến mổ tử thi. Ngồi trên xe buýt đến phòng khám, toàn bộ chúng tôi đều hồi hộp. Chúng tôi rúc rích cười và mang ra những nhận xét rất tế nhị so với nữ sinh, chỉ nhằm làm dịu đi nỗi đắn đo của chúng tôi về những gì chưa biết và những gì mà chúng tôi tưởng tượng ra về toàn cầu của những người điên. Chúng tôi lo sợ về những người lạ lẫm, về bạo lực có thể xảy ra và cả những hành vi của những người hoàn toàn mất khả năng kiểm tra. “Mọi người rồi cũng đến St. Elizabeths cả thôi”, một người bạn của chúng tôi nói và mặc dù tôi không có bất kì nguyên nhân gì để nghĩ rằng mình không minh mẫn, nhưng một nỗi sợ vô hình đã khởi đầu hiện lên trong trí óc tôi. Cuối cùng tôi bị rơi vào một xúc cảm thật kinh khủng. Mặc dù thỉnh thoảng tâm trạng này mới bùng lên, nhưng mỗi khi xuất hiện, nó lại làm cho tôi hoảng sợ. Đó chỉ là một vết nứt, nhưng rất tồi tệ, giống như vết nứt trên vỏ bình chân không, trong cách hành xử của tôi. Chỉ có Chúa mới biết điều gì đang diễn ra dưới lớp vỏ hành xử nghiêm túc và kiềm chế theo đúng những gì được dạy dỗ của tôi. Tuy nhiên, tôi biết rằng vết nứt đã xuất hiện và điều đó làm cho tôi hoảng sợ.

Bản thân phòng khám không phải là quá dữ tợn như tôi hình dung. Sân phòng khám rất rộng, khá đẹp và có nhiều cây to. Từ một vài điểm, người ta có thể nhìn thấy phong cảnh tp, dòng sông và những ngôi nhà mang dáng vẻ thanh lịch của miền Nam được xây từ trước nội chiến, mà có thời chúng là một phần của thủ đô Washington. Tuy nhiên, khi bước vào các khoa, cảm nghĩ các công trình quý phái và phong cảnh đẹp đẽ vừa tạo ra ấy đã hoàn toàn biến mất. Những hình ảnh, tiếng động rùng rợn và mùi hôi rình mất vệ sinh đã ngay nhanh chóng ập tới. Ở Andrew, tôi thấy có nhiều y tá trong các khoa điều trị và phẫu thuật, nhưng y tá trưởng dẫn chúng tôi đi tham quan cho biết, ở St. Elizabeths mỗi nhân viên phải phụ trách tới 90 người bệnh tâm thần. Sửng sốt trước việc một người phải quản lý quá nhiều người bệnh có thể gây bạo lực bất kì lúc nào, tôi liền hỏi làm thế nào để các nhân viên phòng khám có thể tự bảo vệ mình. Bà y tá trưởng cho biết hầu như người bệnh có thể kiểm tra được bằng thuốc, nhưng khi cần người ta phải trói họ lại. “Trói họ lại?”! Làm sao người ta lại có thể bị mất khả năng kiểm tra tới mức phải bị kiềm chế bằng hình thức dã man đến thế? Điều ấy cứ ám ảnh tôi mãi.

Tệ hại hơn nữa, khi chúng tôi bước vào phòng công cộng của khoa người bệnh nữ, các đứng lặng nhìn chúng tôi, với những dáng vẻ kỳ người bệnh trong những bộ quần áo kỳ quái, dị, tiếng giậm chân hồi hộp, những tiếng cười lạ lẫm và thỉnh thoảng cả những tiếng thét xé lòng. Một phụ nữ đứng như một con cò, một chân co lên, cười rúc rích một mình rất ngớ ngẩn trong suốt thời gian tối ở đó. Một người bệnh khác, mà có thời chắc phải rất xinh tươi, đứng ở giữa phòng công cộng trò chuyện một mình, hết tết vào rồi lại tháo ra mái tóc dài, hung đỏ của mình. Đôi mắt lanh lợi của chị theo dõi rất nhanh mọi động đậy của bất kỳ ai có ý định tiến đến gần chị. Lúc đầu chỉ làm cho tôi sợ, nhưng chị cũng kích thích trí tò mò của tôi. Tôi từ từ tiến đến gần chị. Cuối cùng, sau thời điểm đứng cách chị gần một mét trong vài phút, tôi lấy hết dũng cảm hỏi vì sao chị lại phải vào viện. Lúc đó, tôi liếc qua khoé mắt và thấy toàn bộ các tự nguyện viên đã túm lại trò chuyện với nhau ở một góc xa của căn phòng. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định đứng nguyên đó với chị. Trí tò tò đã thắng lợi nỗi sợ hãi trong tôi.

Nữ người bệnh ấy nhìn khắp người tôi khá lâu. Sau đó, chị quay mặt đi để khỏi phải nhìn thẳng vào tôi và giải thích nguyên nhân chị phải vào St. Elizabeths. Chị nói, bố mẹ chị đã nhét một cỗ máy bắn bi vào đầu chị, khi chị mới năm tuổi. Viên bị đỏ cho chị biết khi nào thì nên cười, viên bị xanh thì nhắc chị khi nào cần im lặng và tránh xa mọi người, còn viên bi màu xanh lá cây thì mách chị phải nhận mọi thứ với ba. Cứ vài ngày, viện bi bạc lại chui được vào cỗ máy. Nói đến đây chị quay đầu lại nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi nghĩ có vẻ chị muốn xác minh xem tôi có còn nghe chị nói hay không. Tất nhiên là tôi vẫn đang lắng nghe. Làm sao lại có thể không được chứ? Toàn thể mẩu truyện nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng có cái gì đó chứa đựng ở phía sau. Tôi hỏi chị, viên bị bạc có nghĩa gì? Chị nhìn tôi chú tâm, rồi toàn bộ hình như chết cứng trong con mắt của chị. Đôi mắt chị mơ màng nhìn vào khoảng không, như trở lại với toàn cầu nội tâm của mình. Thế là tôi không khi nào hiểu rằng viên bi bạc có nghĩa gì so với chị.

Mặc dù như bị thôi miên, tôi vẫn hoảng sợ trước những hành vi kỳ dị của các người bệnh và bầu không khí kinh khủng trong căn phòng.

Tuy nhiên, mạnh hơn hết nỗi sợ hãi ấy là nỗi đau. biểu lộ qua ánh nhìn của người phụ nữ ấy. Trong tôi, có một cái gì đó xuất hiện theo bản năng và thật kỳ lạ, tôi hiểu được nỗi đau ấy. Tôi không thể hình dung được rằng tới một ngày nào đó, tôi lại nhìn thấy nỗi buồn và sự điên rồ của họ trong chính mắt mình qua gương.

Trong suốt thời thiếu nữ, tôi may mắn được mọi người, không chỉ có bố mẹ tôi và các bác sỹ ở Andrew, mà cả đồng bọn của bố mẹ tôi nữa, đã khuyến khích nguyện vọng theo nghề y và khoa học của tôi. Hầu như các gia đình trong Đội Khí tượng Không quân được sắp đặt ở ngay trong căn cứ quân sự và một gia đình ở sát căn hộ của chúng tôi đã có quan hệ rất thân thiện với gia đình tôi. Chúng tôi đi cắm trại cùng với nhau, đi nghỉ cùng với nhau, thuê chung người phục vụ và cả mười người chúng tôi vẫn thường cùng nhau kéo đến rạp xem phim, đi ăn tối, tới dự tiệc hay đến Câu lạc bộ sỹ quan. Hồi trẻ, anh tôi, chị tôi và tôi vẫn chơi trò trốn tìm với ba cậu con trai của họ. Khi lớn lên, chúng tôi cùng chơi bóng chày, đến lớp học khiêu vũ, túm tụm ăn uống với nhau và cùng tổ chức những buổi tiệc ngoài trời. Khi trưởng thành, tất nhiên chúng tôi mỗi người mỗi  ngả, nhưng trong suốt thời niên thiếu, chúng tôi luôn đi cùng nhau, ở Washington rồi Tokyo và sau đó trở lại Washington. Mẹ của họ là một phụ nữ Ailen, có mái tóc đỏ, và theo đạo Thiên Chúa. Bà nhiệt tình, vui vẻ, sôi nổi, tự lập và thực tiễn. Bà đã mang lại cho tôi gia đình thứ hai. Tôi có thể ra vào nhà họ bất kì lúc nào, như nhà mình vậy, ở lại đó bao lâu tùy thích, để tận hưởng mùi bánh nướng và bánh táo, để sưởi ấm, để cười, và để trò chuyện hàng tiếng đồng hồ liền. Bà và mẹ tôi thực sự là những người bạn tốt nhất của nhau. Tôi luôn có cảm nghĩ như mình là một đứa con của bà vậy. Bà là một y tá. Bà chú tâm lắng nghe tôi kể lể dông dài về những plan to lớn của mình, nào là học ở trường y, viết sách và phân tích. Thỉnh thoảng bà lại chen vào một câu, đại loại như “Đúng, đúng, rất hay”, “Tất nhiên là cháu có thể” hay “Đã bao giờ cháu nghĩ tới…?”. Không khi nào bà nói với tôi những câu đại loại như “Bác không nghĩ cháu có thể thực hiện được điều đó”, hay “Tại sao cháu không chờ xem tình hình ra sao đã?”.

Chồng bà, một nhà toán học và khí tượng học, cũng rất chu đáo. Ông luôn hỏi tôi bài tập gần đây nhất là gì, tôi đang đọc cuốn sách gì, loài vật mà tôi vừa mổ xẻ là gì và vì sao. Ông trò chuyện với tôi một cách rất nghiêm túc về khoa học và y học và luôn khuyến khích tôi đi càng xa càng tốt trong thực hiện các plan hay ước mong của mình. Giống như bố tôi, ông rất yêu khoa học tự nhiên. Bằng cách của riêng mình, ông có thể giải thích rất dài về nguyên nhân vì sao vật lý, triết học và toán học lại có thể làm cho các bà xã phải ghen tị, vì không được chồng toàn tâm yêu thương và chăm sóc. Chỉ đến hiện giờ, khi nhìn lại – với những trải nghiệm trong những năm sau này của cuộc sống, khi người ta khuyên tôi hạ thấp ước vọng, hay kiềm chế bớt sự nhiệt tình của mình – tôi mới hiểu đầy đủ ý nghĩa thái độ nghiêm túc của bố mẹ tôi và đồng bọn của họ so với những ý tưởng của tôi. Cũng chỉ đến hiện giờ tôi mới hiểu được những ý tưởng và lòng nhiệt tình của tôi, không chỉ được tôn trọng, mà còn được khuyến khích, đã có ý nghĩa trọng yếu tới mức nào so với tri thức và tâm hồn tôi. So với những người có tính tình sôi nổi, ước mong của họ rất dễ bị bóp chết nếu không được quan tâm. Tôi thật may mắn khi được lớn lên giữa những người luôn biết khuyến khích người khác. Vì vậy nói chung là tôi rất ưng ý với cuộc sống của mình. Tôi đã có những người bạn vĩ đại, một cuộc sống đầy ắp những hoạt động như bơi, cưỡi ngựa, chơi bóng chày, tiệc tùng, những người bạn trai, những mùa hè ở Chesapeake và mọi sự khởi đầu tốt đẹp khác của cuộc sống. Tuy nhiên, giữa toàn bộ những điều ấy, tôi cũng dần nhận thấy rằng một người con gái mạnh mẽ và trong chừng mực nào này là đồng bóng như tôi, là không thích hợp lắm với toàn cầu mang nặng tính truyền thống của quân đội. Tính độc lập, sôi nổi và yểu điệu thục nữ hình như là không thích hợp lắm. Người ta cho rằng con cháu của các sỹ quan phải biết xử sự khéo léo, phải biết khiêu vũ, đeo găng trắng tay và phải thỏa mãn một số tiêu chuẩn không thực tiễn khác nữa. Người ta cũng cho rằng bọn trẻ cần phải học, cứ như là trước tuổi 14-15 chúng chẳng biết chuyện gì rõ ràng cả, để biết rằng cấp tướng cao hơn cấp đại tá, đại tá cao hơn thiếu tá, đại úy và trung úy, và toàn bộ mọi người, vâng toàn bộ mọi người, đều trên trẻ con. Còn trong đám trẻ con, thì bọn con trai trên con gái.

Một trong những lí do nhồi sọ vào đầu bọn con gái thứ tự phân hạng khó chịu này là để dạy cho chúng biết văn nghệ nhún gối cúi chào lạc hậu và vô lý. Thật khó có thể tưởng tượng được một người con gái có đầu óc minh mẫn nào lại có thể chịu đựng được việc nhún gối cúi chào. Do thừa hưởng cách giáo dục tự do của người bố có ý kiến và lối sống không theo khuôn phép, nên tôi rất ngạc nhiên khi được yêu cầu một cách nghiêm túc phải học cách nhún gối cúi chào. Này là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Tôi đứng nhìn một hàng dài bọn con gái mặc váy phồng lần lượt thực hiện động tác nhún gối cúi chào một cách thuần thục. Đàn cừu, tôi nghĩ, đúng là giống như một đàn cừu. Rồi đến lượt tôi. Một cái gì đó trong tôi như sôi lên. Tôi đã nhiều lần nhìn thấy quá nhiều đứa con gái phải trổ tài sự phục tùng. Điện tiết hơn nữa là tôi đã quá nhiều lần nhìn thấy quá nhiều đứa con gái sẵn sàng đồng ý nghi thức phục tùng ấy. Tôi từ chối. Trong những toàn cầu khác, đó có thể chỉ là chuyện nhỏ, nhưng trong toàn cầu của những tập quán và nghi lễ quân đội – nơi cấp hàm và chấp hành là toàn bộ và thái độ xử sự không đúng mực của con cháu có thể tác động xấu tới thời dịp thăng tiến của người cha – thì hành động của tôi là một lời tuyên chiến. Từ chối yêu cầu của người lớn, cho dù này là yêu cầu ngớ ngẩn, cũng là không thể đồng ý được. Cô Courtnay, giáo viên dạy khiêu vũ của chúng tôi, quắc mắt. Tôi vẫn từ chối. Cô nói, cô tin rằng Đại tá Jamison (bố tôi) sẽ rất không ưng ý vì việc này. Tôi nói, tôi cũng tin rằng Đại tá Jamison sẽ không quan tâm tới chuyện này. Tôi đã sai. Đại tá Jamison lại quan tâm tới chuyện này. Mặc dù ông nghĩ rằng việc dạy bọn con gái phải nhún gối cúi chào các sỹ quan và phu nhân của họ là vô lý, nhưng ông rất quan tâm tới việc tôi đã tỏ ra thô lỗ với người khác. Tôi xin lỗi. Sau đó bố tôi và tôi thỏa hiệp với nhau về động tác nhún gối cúi chào, này là tôi có thể khẽ nhún gối và hơi thấp mình xuống một tí. Này là phương án tốt và cũng là một trong những cách xử lý khéo léo đặc trưng của bố tôi trong những tình huống khó xử.

Tôi không ưng ý với việc phải cúi chào, nhưng lại yêu thích vẻ đẹp trang nhã của bộ váy phồng, thích âm nhạc, thích khiêu vũ và yêu vẻ đẹp của những đêm vũ hội. Cho dù tôi thích độc lập đến đâu chăng nữa, thì cuối cùng tôi cũng nhận thấy rằng tôi luôn bị thu hút vào toàn cầu truyền thống ấy. Người ta luôn có cảm nghĩ an toàn đến tuyệt vời khi sống trong môi trường quân đội giữa những hàng rào rào. Trong toàn cầu ấy, người ta trông đợi ở bạn rất nhiều, và rất ít lời bào chữa. Này là một xã hội mà người ta tin một cách vô tư vào sự công bình, danh dự, lòng dũng cảm và trí não sẵn sàng hi sinh vì quốc gia. Quả thật là toàn cầu ấy đòi hỏi người ta phải trung thành, mà trong chừng mực nào này là  mù quáng, coi đó như một điều kiện để trở thành thành viên của toàn cầu ấy. Tuy nhiên, nó cũng tha thứ, như bắt buộc phải thế, cho những thanh niên trẻ trung, mạnh mẽ, mà viển vông, những người sẵn sàng đồng ý rủi ro bằng chính cuộc sống của họ. Nó cũng tha thứ cho các nhà khoa học ít tuân theo những quy tắc xã hội. Nhiều người trong số họ là các nhà khí tượng học và hầu như trong số họ cũng yêu thích khung trời như những phi công vậy. Này là một xã hội được xây dựng trên tranh chấp giữa lãng mạn và phép tắc. Này là một toàn cầu phức tạp của sự phấn khích và tự tranh chấp, của cuộc sống vội vàng và chết chóc ngạc nhiên. Nó là một cửa sổ mang người ta trở lại với lối sống của thế kỷ 19, với toàn bộ sự tốt đẹp và tệ hại nhất của nó, này là nét văn minh, sự lịch thiệp, sự uyên bác, nhưng không dung thứ cho bất kì một nhược điểm nào của con người. Ở đó người ta phải sẵn sàng hy sinh ước vọng của riêng mình, phải tự kiểm tra được mình và phải biết kiềm chế.

Một lần mẹ tôi kể cho tôi nghe chuyện bà tới dự tiệc trà ở nhà viên sỹ quan lãnh đạo của bố tôi. Một trong những vai trò của bà là nói với các cô vợ trẻ về mọi chuyện, từ phép xã giao, như làm thế nào để phục vụ một buổi tiệc tối chu đáo, cho  tới việc tham gia vào các hoạt động cộng đồng trong căn cứ không quân. Sau một hồi thảo luận về toàn bộ những vấn đề này, bà quay về với đề tài thiết thực nhất. Bà nói, các phi công không khi nào được bực tức hay khó chịu khi cất cánh. Bực tức có thể dẫn tới nhầm lẫn trong nhận xét tình hình hay xao nhãng. Khi đó tai nạn có thể xảy ra và phi công có thể bị chết. Vợ của các phi công không nên tranh cãi với chồng trước giờ họ cất cánh. Vì vậy, điềm tĩnh và kiềm chế không chỉ là đức tính nên có, mà còn rất thiết yếu ở người phụ nữ.

Như mẹ tôi sau này nói, thật tệ hại khi lo mình bị ốm mỗi khi chồng leo lên máy cất cánh. Nay bà lại được nhắc nhở rằng bà sẽ chịu một phần trách nhiệm nếu máy cất cánh của chồng không may gặp nạn. Để chồng khỏi bị chết, mọi bực tức và bất bình của người phụ nữ phải được nén lại trong lòng mình. Quân đội vẫn thường dành cho các bà xã lịch thiệp, quý phái và điềm đạm của mình vai trò to to hơn so với phần sót lại của xã hội.

Nếu trong những ngày tương đối bình lặng, với những đôi găng trắng tay và mũ rộng vành ấy, bạn nói với tôi rằng chỉ trong vòng hai năm nữa tôi sẽ bị rối loạn tâm thần và chỉ muốn chết, thì chắc rằng là tôi sẽ cười ngất và rất ngạc nhiên.

Sau đó, đúng vào lúc tôi khởi đầu quen với sự thay đổi và những nghịch lý của quân đội, và lần trước nhất tôi cảm thấy gia đình tôi có vẻ sẽ sống lâu dài ở Washington, thì bố tôi xin nghỉ hưu và nhận một công việc, với tư cách là nhà khoa học, trong Tập đoàn Rand ở California. Này là năm 1961, khi tôi 15 tuổi. Mọi thứ trong toàn cầu của tôi khởi đầu tan vỡ.

Ngày trước nhất ở trường trung học Pacific Palisades – mà chương trình dành cho con cháu của các quân nhân đã bị chậm lại vài tháng so với ngày khai trường của những học viên khác – đã cho tôi thấy rằng cuộc sống của tôi sẽ hoàn toàn khác. Nó được khởi đầu bằng thủ tục thông thường so với những học viên chuyển trường, này là tôi phải đứng trước lớp, toàn những khuôn mặt lạ lẫm, giới thiệu tóm tắt về mình trong ba phút. Việc này vốn đã khó ở các trường của con em quân nhân, nó lại càng trở nên ngớ ngẩn khi đứng trước nhóm người miền Nam California sung túc và vô tình. Ngay khi tôi giới thiệu bố tôi đã từng là một sĩ quan không quân, tôi nhận thấy rằng có vẻ như tôi vừa giới thiệu ông là con chồn sương hay con sa giông Carolina vậy. Cả lớp lặng ngắt. Ở trường Pacific Palisades này chỉ có con cháu của những người đang làm việc trong “ngành công nghiệp” (nghĩa là nghề làm phim), những người sung túc, các luật sư, các nhà doanh nghiệp hay các bác sỹ thành đạt, mới được thừa nhận mà thôi. Hiểu biết của tôi về “trường dân sự đã rõ nét hơn sau những tràng cười phá lên mỗi khi tôi nói “Vâng, thưa bà” và “Không, thưa ông với các thầy gia sư.

Tôi cảm thấy như bị trôi dạt trong một khoảng thời gian khá dài. Tôi nhớ Washington kinh khủng. Tôi đã để lại phía sau một người bạn trai và luôn cảm thấy xấu số khi không có anh. Anh có mái tóc vàng hoe, mắt xanh, khôi hài và thích khiêu vũ. Chúng tôi đã hầu như không rời nhau trong những tháng trước khi tôi rời Washington. Tôi đã giới thiệu anh với gia đình và giống như hầu như những người ở độ tuổi 15 khác, tôi tin rằng tình yêu của chúng tôi sẽ tồn tại mãi mãi. Tôi cũng để lại phía sau cuộc sống đầy ắp những đồng bọn tốt, mối quan hệ thân thiện giữa các gia đình, tình người nồng ấm và những tiếng cười. Tôi cũng để lại phía sau những truyền thống của quân đội mà tôi đã biết và yêu quý và một tp mà tôi đã coi như quê hương. Trọng yếu hơn nữa là tôi đã để lại phía sau lối sống nhà binh bảo thủ, mà tôi đã biết từ lâu. Tôi đã từng đi mẫu giáo, nhà trẻ và hầu như những năm tiểu học ở các căn cứ không quân và lục quân. Những năm trung học nền tảng và trung học phổ thông của tôi ở Maryland, tuy không phải là trong căn cứ quân sự, nhưng học viên ở đó đa số là con cháu của các nhà binh, quan chức chính quyền hay các nhà ngoại giao. Này là một toàn cầu nhỏ, ấm cúng, không bị đe dọa và tách biệt. So với tôi, California hay tối thiểu là ở trường Pacific Palisades, cuộc sống khá lạnh nhạt và lịch lãm. Tôi hầu hết mất hết chỗ bấu víu. Mặc dù tôi đã nỗ lực nhanh chóng hoà nhập với ngôi trường mới và kết thân với những người bạn mới – mà cả hai việc này so với tôi là khá đơn giản sau biết bao lần chuyển trường – tôi vẫn cảm thấy vô cùng xấu số. Tôi thường ngồi khóc và dành nhiều thời gian để viết thư cho bạn trai. Tôi giận bố vì ông nhận việc ở California, thay vì ở lại Washington. Tôi mong ngóng những cú smartphone hay những lá thư của đồng bọn. Ở Washington tôi luôn là lãnh đạo lớp, hay đội trưởng của hầu như những đội mà tôi tham gia. Ở đó tôi cũng hầu như không phải đối đầu nhiều lắm về học vấn, còn những bài tập về nhà thì tẻ ngắt, học vẹt và chẳng cần phải nỗ lực gì nhiều. Trường trung học Palisades lại hoàn toàn khác. Các môn thể thao khác hoàn toàn, mà tôi chẳng biết môn nào cả, và phải khá lâu sau tôi mới nhập cuộc được. Đáng ngại hơn nữa là sự đối đầu về học vấn rất gay gắt. Tôi bị tụt lại phía sau trong hầu như các môn học. Lúc nào tôi cũng phải đuổi theo các bạn và tôi nghĩ có vẻ chẳng khi nào tôi đuổi kịp họ. Một mặt, tôi phấn khởi vì được sống giữa những học viên thông minh và đầy sức đối đầu, nhưng mặt khác, và đây là điều mới, nó cũng làm cho tôi xấu hổ và rất chán nản. Việc thừa nhận vốn tri thức và khả năng rất hạn chế của mình là điều chẳng đơn giản gì. Tuy nhiên, cuối cùng tôi cũng dần hoà nhập được với ngôi trường mới, thu hẹp dần khoảng cách tri thức với các bạn và kết thân với những người bạn mới.

Cho dù toàn cầu mới này rất lạ lẫm so với tôi, và tôi cũng lạ lẫm với nó, nhưng rồi tôi cũng tìm được cách làm quen với toàn cầu ấy. Sau những cú sốc ban đầu, tôi thấy hầu như những gì trường đều đáng học hỏi, trong đó có cả những bài học ở ngay trong lớp của tôi. Tôi mê các cuộc thảo luận rất mạch lạc của chúng ta trong lớp mới của tôi. Hầu như các bạn đều có tối thiểu một, thậm chí hai, ba bố dượng, hay mẹ kế, tùy thuộc vào số lần li dị trong nhà. Các bạn tôi có nguồn tài chính rất đáng kể. Nhiều người đã quá thân thuộc với tình dục, tới mức họ có thể dạy tôi nhiều điều thú vị. Bạn trai mới của tôi, đang học đại học, dạy tôi nốt phần sót lại. Anh là sinh viên của trường UCLA, nơi tôi làm việc tự nguyện trong những ngày nghỉ cuối tuần ở khoa dược. Anh cũng là toàn bộ những gì mà tôi nghĩ là phải có vào thời điểm ấy. Anh nhiều tuổi hơn tôi, đẹp trai, chưa thành thân, say mê tôi, có xe ô tô riêng và giống như người bạn trai trước của tôi, rất thích khiêu vũ. Mối quan hệ của chúng tôi kéo dài trong suốt những năm tôi học trung học và khi nhìn lại, tôi nghĩ này là một phương pháp để tôi thoát khỏi ngôi nhà của mình và thoát khỏi những điều rắc rối, giống như mọi cuộc tình lãng mạn khác.

Đó cũng là lần trước nhất tôi biết WASP1*nghĩa là gì, lần trước nhất tôi biết mình là một WASP và WASP là một sự pha trộn của cả những điều may mắn lẫn không may. Trước khi tới California tôi chưa khi nào nghe thấy thuật ngữ này. WASP nghĩa là một người bảo thủ, hay nghiến răng, cứng nhắc, không có khiếu khôi hài, lạnh lùng, vô duyên, tẻ ngắt và không sắc sảo lắm, nhưng lại làm cho mọi người phải ghen tị, vì một nguyên nhân không thể giải thích được nào đó. Khi ấy, cũng như cho tới tận ngày nay, đó vẫn là một khái niệm lạ lẫm so với tôi. WASP trực tiếp góp phần tạo ra sự phân tách về mặt xã hội ở trong trường. Những ai thích ra bờ biển vào ban ngày và đi dạ hội vào ban tối, thì có xu thế WASP. Một nhóm khác, có vẻ lãnh đạm hơn và mệt mỏi hơn thì có xu thế theo đuổi tri thức. Tôi hình như bị trôi giạt giữa hai toàn cầu này. Về cơ bản tôi thấy thoải mái trong cả hai toàn cầu ấy, nhưng vì những lí do khác hoàn toàn nhau. Toàn cầu WASP tạo ra một mối liên hệ mong manh, nhưng trọng yếu với quá khứ của tôi. Tuy nhiên, toàn cầu tri thức lại là thành phần ngày càng vững chắc trong những trải nghiệm của tôi và tạo ra nền tảng vững chắc cho tương lai học vấn của tôi.

*WASP viết tắt từ chữ tiếng Anh White Anglo – Saxon Protestant theo từ điển Lạc Việt nghĩa là người Anglo – Saxon da trắng theo đạo Tin lành (BT).

Quá khứ đúng là quá khứ. Toàn cầu thoải mái của quân đội và Washington đã trôi qua. Mọi thứ đã thay đổi. Anh trai tôi đã vào đại học trước khi chúng tôi chuyển tới California, tạo ra một lỗ hổng lớn trong mạng lưới an toàn của tôi.

Mối quan hệ của tôi với chị gái, vốn luôn khó khăn, nay càng khó chịu, thường đối nghịch nhau và nói chung là xa lánh. Chị tôi gặp nhiều trở ngại hơn trong việc thích ứng với môi trường sống ở California, nhưng chúng tôi hầu như không nói với nhau về chuyện này. Chúng tôi sống theo cách riêng và với toàn bộ những khác biệt mà chúng tạo ra, chúng tôi hình như đang sống trong những ngôi nhà khác nhau. Bố mẹ tôi tuy vẫn sống với nhau, nhưng về cơ bản họ đã khởi đầu xa cách. Mẹ tôi bận rộn với việc dạy học, chăm sóc toàn bộ chúng tôi và theo chương trình đại học. Bố tôi thì suốt ngày bận rộn với công việc khoa học của ông. Tâm trạng phấn khởi của ông thỉnh thoảng vẫn trỗi dậy và mỗi lần như vậy, sự sắc sảo và vui vẻ của ông lại tạo ra bầu không khí sôi nổi và ấm cúng cho cả ngôi nhà. Đã có thời điểm ông cao hứng và ý tưởng của ông khởi đầu đụng chạm tới những hạn chế mà tập đoàn Rand có thể cho phép. Ví dụ, đã có thời điểm ông mang ra ý tưởng xác nhận hệ số thông minh của hàng trăm người, mà hầu như là đã chết. Nguyên nhân mang ra là có thể đồng ý được, nhưng nó lại mang nặng tính cá nhân và hoàn toàn không liên quan gì đến phân tích khí tượng, công việc mà ông được tập đoàn Rand trả tiền để thực hiện.

Khi mà khả năng cất cánh của bố tôi khởi đầu giảm xuống, thì bóng tối u sầu trong ông khởi đầu bộc lộ, giống như những khoảng lặng giữa đoạn nhạc vui vậy. Chỉ trong một năm kể từ khi chúng tôi chuyển tới California, tâm trạng của bố tôi đã ủ ê đi nhiều và tôi cảm thấy bất lực vì đã không thể làm cho ông vui lên. Tôi chờ đợi sự trở lại của những tiếng cười, tâm trạng phấn khích và sự nhiệt tình đến cao độ của ông, nhưng trừ đôi lần tái hiện hiếm hoi ra, chúng đã phải nhường chỗ cho sự tức giận, thất vọng và lùi bước. Chỉ sau một thời gian, tôi sững sờ nhận thấy một con người khác trong ông. Có những lúc ông phiền muộn tới mức không muốn làm gì nữa, không ra khỏi giường và có cái nhìn vô cùng chán nản về cuộc sống và tương lai. Đã có thời điểm cơn thịnh nộ và tiếng quát tháo của ông làm tôi hoảng sợ. Tôi chưa khi nào nghĩ rằng bố tôi, một người thanh lịch và nói năng nhẹ nhõm, lại có thể quát to đến thế. Thế là khởi đầu những ngày, thậm chí hàng tuần, tôi cảm thấy sợ khi phải xuất hiện trong bữa sáng hoặc khi đi học về. Ông khởi đầu uống nhiều rượu và điều này đã làm cho mọi chuyện càng thêm tồi tệ. Giống như tôi, mẹ tôi cũng khởi đầu sợ hãi và hoảng sợ. Thế là cả hai chúng tôi cùng tìm cách thoát ra khỏi cảnh này bằng cách dành nhiều thời gian hơn cho công việc và đồng bọn. Thậm chí tôi còn Note nhiều hơn tới con chó của tôi. Gia đình tôi đã nuôi con chó lạc này khi chúng tôi sống ở Washington. Đi đâu tôi cũng cho nó đi theo. Tối cho nó ngủ trên giường với tôi và nó có thể lắng nghe tôi kể hàng tiếng đồng hồ về những điều phiền muộn của mình. Giống như hầu như những con chó khác, nó rất biết lắng nghe và nhiều đêm tôi đã khóc một mình, với đôi tay ôm cổ chó. Con chó ấy, cùng với người bạn trai của tôi và những người bạn khác đã hỗ trợ tôi vượt qua những sóng gió trong cuộc sống gia đình.

Không lâu sau đó, tôi phát xuất hiện rằng không phải chỉ có bố tôi có tâm trạng ủ ê và không ổn định. Khi tôi 16-17 tuổi, tôi nhận thấy rằng sinh lực và sự phấn khích trong tôi có thể làm cho những người xung quanh phải mệt nhoài mới theo được, nhưng sau những tuần hứng thú và ít ngủ, tâm trạng của tôi bỗng lao xuống phần tối tăm và ủ ê của cuộc sống. Hai người bạn tri kỷ nhất của tôi, cả hai đều là nam giới – khá mê hoặc, hay nhạo báng, nhưng mạnh mẽ hình như cũng bị rơi vào góc tối hơn của cuộc sống. Chúng tôi khởi đầu trở thành bộ ba có nhiều rắc rối, cho dù chúng tôi cố xoay xở để có cuộc sống bình thường và vui vẻ ở trường. Cả ba chúng tôi đều đảm nhiệm những vai trò lãnh đạo khác nhau trong lớp, cùng tích cực tham gia thể thao và các hoạt động ngoại khoá của nhà trường. Trong những ngày đẹp trời, chúng tôi thường đi chơi với nhau như những người bạn tri kỷ. Chúng tôi cười đùa, rồi lại nghiêm trang, uống rượu và hút thuốc lá với nhau. Chúng tôi chơi suốt đêm và thảo luận sôi nổi với nhau về cuộc sống và những nguyên nhân kéo theo chết chóc. Chúng tôi cùng nghe nhạc của Beethoven, Mozart và Schumann. Chúng tôi trao đổi với nhau về thuyết hiện sinh của Hesse, Byron, Melville và Hardy. Cuối cùng, chúng tôi đã nói thật cho nhau nghe về những điểm tối trong lại lịch gia đình mình. Hai trong chúng tôi có người thân trong nhà mắc bệnh hưng-trầm cảm, còn một người thì mẹ tự bắn vào tim. Cả ba chúng tôi cùng khởi đầu nhận thấy nỗi đau, mà sau này mỗi người trong chúng tôi đều biết rõ, này là sự cô quạnh. So với riêng tôi, nỗi đau ấy đã tới sớm hơn tôi tưởng.

Lần trước nhất tôi bị mắc chứng hưng – trầm cảm là vào năm cuối của trường trung học phổ thông. Khi chứng trầm cảm xuất hiện, trí nhớ của tôi giảm đi rất nhanh. Lúc đầu, mọi chuyện hình như đơn giản. Tôi lao nhanh như một con chồn điên, hàng loạt plan nổi lên như bong bóng trong đầu, tâm trạng phấn khích, chơi thể thao rất hay, tỉnh táo suốt đêm, hết đêm này đến đêm khác, đi chơi với đồng bọn, đọc bất kì thứ gì, viết đầy sổ tay những bài thơ và những đoạn kịch và vạch ra hàng loạt plan viển vông cho tương lai. Toàn cầu tràn ngập hứng thú và kỳ vọng. Tôi thấy thật tuyệt vời. Không chỉ cảm thấy tuyệt vời, tôi còn thấy thực sự tuyệt diệu nữa. Tôi có cảm nghĩ rằng mình có thể làm bất kì chuyện gì và không có nhiệm vụ nào là quá khó khăn cả. Đầu óc tôi minh mẫn, rất tập trung và có những bước nhảy đột biến về toán mà cho tới lúc ấy là vượt ra ngoài tri thức toán của tôi. Thực tiễn là cho tới hiện giờ tôi vẫn chưa đạt tới trình độ toán ấy. Vào lúc đó, không chỉ mọi thứ so với tôi đều hoàn hảo, mà tôi còn khởi đầu năm bắt được những mối quan hệ vĩ đại của vũ trụ nữa. Sự say mê với những quy luật của toàn cầu tự nhiên như buộc tôi phải xì ra và tôi bỗng thấy mình hay níu kéo đồng bọn lại để kể cho họ nghe về những vẻ đẹp của toàn cầu tự nhiên. Họ hầu hết sững sờ trước sự hiểu biết của tôi về vẻ đẹp và sự phức tạp của vũ trụ, nhưng họ cũng mệt mỏi với những mẩu truyện huyên thuyên của tôi: Bạn nói nhanh quá, Kay. Chậm lại một tí nào, Kay. Bạn làm rách áo mình hiện giờ, Kay. Chậm lại đi, Kay. Vào những lúc họ không nói ra, tôi vẫn nhận thấy điều ấy trong mắt họ: Lạy Chúa, chậm lại đi, Kay.

Cuối cùng tôi cũng chậm lại thật. Thực tiễn là đã phanh kít lại. Không giống như thời kỳ điên nặng và phát triển tới mức không kiểm tra được tâm thần vài năm sau đó, chứng điện nhẹ lần này của tôi chỉ thoảng qua và mang những nét dễ thương của bệnh điên. Giống như hàng trăm lần phấn khích cao độ sau đó, thời gian mắc bệnh lần này ngắn và nhanh chóng tan biến. Có thể nó đã làm cho một số người bạn của tôi mệt mỏi và đương nhiên là làm cho tôi phấn khởi, mà kiệt sức, nhưng nó chưa làm xáo trộn quá mức. Sau đó, nền tảng tâm lý khởi đầu thoát dần ra khỏi cuộc sống và tâm trí tôi. Tư duy của tôi không còn rõ ràng nữa và khởi đầu bị bóp méo. Tôi đọc đi, đọc lại nhiều lần một đoạn văn nào đó và nhận thấy rằng mình không hề nhớ những gì vừa đọc. Bất kể cuốn sách, hay bài thơ nào mà tôi cầm lên cũng đều thế cả. Thật không thể hiểu nổi. Tôi mất hết cảm nghĩ. Tôi khởi đầu không hiểu những gì thầy cô giảng trên lớp và nhận thấy rằng mình suốt ngày nhìn ra cửa sổ mà không biết những gì đang xảy ra xoay quang. Thật đáng sợ.

Tôi đã quen với tư duy rằng tôi là người bạn tốt nhất của chính mình. Tôi quen với những cuộc tranh luận không khi nào kết thúc trong đầu mình. Tôi cũng từng nghĩ rằng nguồn cơn sinh ra tiếng cười và khả năng phân tích có sẵn trong tôi đã hỗ trợ tôi vượt qua mọi hoàn cảnh buồn chán và thống khổ. Như một điều tất yếu, tôi tin vào sự sắc sảo, mối quan tâm và lòng trung thành của trí tuệ tôi. Nay đột nhiên trí tuệ của tôi quay sang chống lại tôi. Nó khinh nhờn sự hăng say vô vị của tôi. Nó cười nhạo trước toàn bộ các plan ngu xuẩn của tôi. Nó cũng chẳng tìm thấy bất kì điều gì thú vị, đáng tận hưởng hay đáng giá thành. Nó cũng không đủ khả năng tập trung trí nhớ, trong lúc thỉnh thoảng lại quay sang tư duy về chết chóc: Tôi đang sắp chết, vậy có cái gì có thể làm thay đổi tình hình được không? Cuộc sống là ngắn ngủi và vô nghĩa, vậy vì sao lại phải sống? Tôi hoàn toàn kiệt sức và vô cùng hoảng sợ mỗi khi rời khỏi giường vào buổi sáng. Thời gian để tôi đi tới bất cứ nơi đâu cũng nhiều gấp đôi so với bình thường. Tôi mặc đi, mặc lại nhiều lần một bộ quần áo và cũng mất rất nhiều thời gian để suy xét nên mặc bộ quần áo nào. Tôi sợ phải trò chuyện với mọi người và tránh gặp đồng bọn nếu như có thể. Tôi ngồi trong thư viện nhà trường từ sáng sớm đến chiều tối, với sức ỳ ghê gớm, với trái tim chết cứng và bộ óc trợ như đất sét.

Mỗi sáng thức dậy tôi lại thấy vô cùng mệt mỏi. Tôi thấy xa lạ với chính mình. Tôi chán ngán và xa lạ với cuộc sống. Ngày ngày tiếp theo cũng thế. Sau đó tâm trí tôi tràn ngập cảm nghĩ đen tối, trống trải, chỉ thấy toàn chết chóc và tàn phá. Tôi thấy mọi thứ sinh ra đều chết đi, vì vậy tốt nhất là nên chết ngay từ hiện giờ để khỏi phải đớn đau. Tôi kéo lê tâm hồn và thể xác rũ rượi của mình quanh nghĩa địa của địa phương và suy tính xem các dân cư trong đó đã sống được bao lâu trước khi lìa đời. Tôi ngồi trên những nấm mộ viết những bài thơ dài, thê lương và u ám. Tôi tin rằng tâm hồn và thể xác của tôi đang tan rữa và mọi người đều biết thế, nhưng chẳng ai chịu nói ra. Xen lẫn trong sự suy sụp này là những cơn kích động điện cuồng và hoảng sợ, mà dù tôi có chạy bao nhiêu cũng không đủ để làm dịu nó xuống. Trong vài tuần, tôi phải pha rượu vodka vào nước cam để uống trước khi đi học, mà trong đầu vẫn luôn ám ảnh ý nghĩ tự tử. Tôi nỗ lực tỏ ra bình thường, nên nghĩ rằng có vẻ ít người nhận thấy sự khác biệt trong tôi. Không ai trong nhà tôi nhận thấy sự khác biệt này. Hai người bạn của tôi tỏ ra lo ngại, họ đề xuất trò chuyện này cho bố mẹ tôi biết, nhưng tôi bắt họ phải thể giữ bí mật. Một giáo viên của tôi đã nhận thấy và mẹ của một người bạn cũng kéo tôi sang một bên hỏi có chuyện gì không ổn xảy ra với tôi không. Tôi nói dối trơn tuột: Cháu khoẻ, cảm ơn bác đã quan tâm. 

Tôi không hiểu vì sao tôi lại có thể vượt qua mọi chuyện ở trường một cách bình thường. Có vẻ mọi người chỉ quan tâm đến cuộc sống của riêng mình mà ít để ý đến sự vô vọng của người khác, nếu như nó được nỗ lực che giấu. Tôi đã không chỉ nỗ lực, mà còn rất nỗ lực để khỏi bị mọi người phát hiện. Tôi biết có chuyện gì đó rất không ổn đang xảy ra với tôi, nhưng không rõ này là gì. Vả lại tôi luôn được dạy rằng hãy giữ kín những vấn đề của riêng mình. Việc che giấu tâm hồn mình với đồng bọn và gia đình hoá ra lại quá đơn giản, như Hugo Wolf đã viết: “Tôi xuất hiện trước mọi người một cách vui vẻ và nhiệt tình. Tôi cũng nói chuyện khá bình thường với những người khác. Nhìn bề ngoài có vẻ như tôi vẫn khoẻ. Chỉ có Chúa mới biết rằng tâm hồn tôi đang chết lặng đi và trái tim tôi đang rỉ máu từ hàng nghìn vết thương”.

Tôi đã không tránh được nỗi đau to lớn cả về trí óc lẫn tâm hồn một cú sốc khi không thể nắm bắt được những gì đang xảy ra quanh mình, khi biết tư duy của mình đã hoàn toàn vượt ra ngoài tầm kiểm tra và khi nhận thấy rằng tôi đã suy sụp tới mức chỉ muốn chết – và thời kỳ đó kéo dài vài tháng, trước khi những vết thương khởi đầu lành lại. Nay nhìn lại, tôi ngạc nhiên vì mình đã vượt qua được nó và vượt qua được bằng khả năng của chính mình. Tôi ngạc nhiên vì cuộc sống của tôi ở trường trung học đã trở thành sự pha trộn giữa cuộc sống vô cùng phức tạp với một chết chóc có thể sờ mó được. Tôi trông già dặn hẳn đi trong những tháng ngày này, như người ta phải thế sau những mất mát to lớn, với cuộc sống tiến gần đến chết chóc và với sự chở che ở xa đến thế.

Học tập vì cuộc sống

Năm 18 tuổi, ngần ngừ mãi tôi mới quyết định khởi đầu chương trình đại học ở Trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA). Đó không phải là trường tôi muốn vào. Trong nhiều năm tôi đã giữ chiếc huy hiệu tráng men đỏ và vàng của Trường Đại học Chicago mà bố tôi cho trong hộp đồ trang sức của mình. Nó có một chiếc dây chuyền vàng nối liền hai phần của huy hiệu và tôi nghĩ là nó rất đẹp. Tôi muốn mình được quyền đeo chiếc dây chuyền ấy. Tôi muốn vào Trường Đại học Chicago vì này là trường nổi tiếng về sự khoan dung, khuyến khích người ta phát triển và không cứng nhắc. Tôi muốn vào trường này còn vì cả bố tôi lẫn ông ngoại tôi, một nhà vật lý, đều đã nhận bằng cử nhân ở đây. Tuy nhiên, tôi không thể vào trường này vì lí do tài chính. Tính khí thất thường của bố tôi đã làm cho ông bị mất việc ở tập đoàn Rand. Vì vậy, trong lúc hầu như đồng bọn của tôi nộp đơn xin vào trường Harvard, Stanford hay Yale, thì tôi lại nộp đơn xin vào Trường Đại học California. Tôi vô cùng thất vọng. Tôi rất muốn được rời khỏi California, để sống cuộc sống của riêng mình và để vào một trường đại học nho nhỏ nào đó. Tuy nhiên, về lâu dài, UCLA lại là nơi thích thống nhất so với tôi. Trường Đại học California đã mang lại cho tôi một nền tri thức tuyệt vời, với sở thích riêng. Trường đã tạo cho tôi thời dịp phân tích độc lập. Trường cũng dành cho chúng tôi những chiếc giường ngủ rất rộng, mà có vẻ chỉ có các trường đại học lớn mới có thể đảm bảo được cho sinh viên. Tuy nhiên, trường không tạo ra được một sự bảo vệ có ý nghĩa nào giúp tôi chống lại tâm trạng lo âu và những nỗi đau trong tâm hồn.

Tôi biết, những năm tháng ở trường đại học là quãng đời tốt đẹp nhất so với nhiều người, nhưng nó lại là quãng thời gian không thể tưởng tượng nổi so với tôi. Hầu như khoảng thời gian đại học của tôi là những cuộc vật lộn kinh khủng. Tâm trạng kích động và bạo lực cứ vài ba tuần, thỉnh thoảng vài tháng lại xảy ra, với tâm trạng phấn khích, say mê và hăng say, vui vẻ lao vào thực hiện những công việc vô cùng vất vả. Trạng thái tâm lý và sinh lực thay đổi nhanh này có những nét quyến rũ riêng của nó, đa số nhờ nó tái hiện được tâm trạng phấn khích mà tôi đã từng có ở trường trung học. Trạng thái này rất tuyệt vời, vì đầu óc tôi chứa đầy ý tưởng và tôi lại có thừa đủ sinh lực để tối thiểu thì cũng hình dung được cách thực hiện những ý tưởng đó như vậy nào. Những bộ quần áo Brooks Brothers kín đáo mà bình thường tôi vẫn mặc nay bị bỏ qua, cổ áo của tôi trễ xuống và tôi sung sướng tận hưởng những khoái lạc của tuổi trẻ. Hình như toàn bộ đều quá đà. Thay vì mua một đĩa nhạc của Beethoven, tôi có thể mua tới chín đĩa. Thay vì đăng ký học năm lớp, tôi có thể ghi tên vào bảy lớp. Thay vì mua hai vé cho một buổi hòa nhạc nào đó, tôi có thể mua tới tám hoặc mười vé.

Một hôm, trong năm học trước nhất, tôi đi bộ qua vườn nhiệt đới của UCLA, nhìn xuống con suối nhỏ chảy giữa vườn và đột nhiên nhớ tới một cảnh trong vở Những chuyện tình thơ mộng chốn đồng quê của Nhà Vua của Tennyson. Tôi nhớ tới người phụ nữ bên hồ. Bị thôi thúc bởi cảm nghĩ cháy bỏng và nguy cấp, tôi chạy ngay ra hiệu sách tìm mua một cuốn. Và tôi đã tìm được. Tuy nhiên, khi tôi rời nhà sách sinh viên, thì cánh tay tôi đã nặng trĩu với tối thiểu 12 cuốn sách khác nữa. Một vài cuốn trong đó có liên quan đến thơ của Tennyson, nhưng nhiều quyển khác chỉ liên quan rất ít tới những truyền thuyết về Vua Arthur, như cuốn Người đàn bà của Arthur của Malory và Vị Vua một thời và mãi mãi của T.H. White. Tôi còn mua cả cuốn Cành Vàng, Vương quốc Xentơ, Những bức thư của Heloise và Abelard, sách của Jung, sách của Robert Grave, sách về Tristan và Isolde, tập truyện truyền thuyết và bộ sưu tập những chuyện kỳ thú của Xcốtlen. Khi đó tôi thấy toàn bộ những cuốn sách này hình như có liên quan với nhau. Không chỉ chúng có liên quan với nhau, mà còn cùng chứa đựng những yếu tố trọng yếu về toàn cầu vũ trụ, mà tâm trí tôi khởi đầu bị hấp dẫn vào. Tấn bi kịch của Arthur giải thích rất nhiều điều về bản chất con người, như sự thích thú, phản bội, bạo lực, khoan dung và khát vọng. Bị thôi thúc bởi nhu cầu tìm hiểu sự thật, tâm trí tôi khởi đầu đạn kết các nhân tố ấy lại. Khi mà tâm trí tôi đang bị hút vào các vấn đề của toàn cầu vạn vật, thì việc mua những cuốn sách trên đương nhiên là thiết yếu. Thực tiễn là chúng có những mối quan hệ lôgích nhất định với nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống thực tiễn ít mơ mộng hơn, thì tôi lại không đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu mua toàn bộ những gì liên quan đến nó. Tôi phải đi làm từ 20 đến 30 giờ mỗi tuần để có tiền tiêu pha trong những năm đại học. Vào những lúc tâm hồn hứng thú, các khoản chi của tôi hình như không có hạn chế. Điều tai hại là những tờ thông báo của ngân hàng về việc tôi chi quá tiền trong tài khoản lại luôn được gửi tới đúng vào lúc tôi rơi vào trạng thái trầm cảm, mà khi nào cũng xảy ra sau những tuần cao hứng.

Giống như trong năm cuối cùng ở trường trung học, những bài tập bỗng trở nên đơn giản so với tôi, trong thời kỳ hưng cảm. Trong những tuần này, các bài xác minh, bài tập thử nghiệm và những bài luận văn bỗng trở nên quá đơn giản. Tôi cũng tham gia tích cực vào đủ mọi loại hoạt động chính trị và xã hội, từ hoạt động chống chiến tranh của ký túc xá, đến những hoạt động hơi quá khích, như biểu tình chống lại các trung tâm tư vấn du học sát hại rùa biển để chế tạo mỹ phẩm. Một lần tôi còn đứng chặn cửa ra vào của một cửa tiệm bách hoá địa phương, tay giơ cao tấm bích trương tự tạo, trên đó vẽ nghệch ngoạc hai con rùa biển đang nghiến răng bò trên cát, trên đầu có một vài người nổi tiếng – Tôi nghĩ bức vẽ ấy nói lên khả năng định hướng tuyệt vời của rùa biển – và dưới bức vẽ là dòng chữ lớn, viết bằng mực đỏ: “DA CỦA BẠN ĐANG LÀM MẤT DA CỦA RÙA BIỂN”.

Giống như hết ngày buộc phải đến đêm, tâm trạng hưng phấn của tôi rồi cũng đến lúc phải tan ra và đầu óc tôi như phanh kít lại. Tôi chẳng còn chút hứng thú nào với những bài tập ở trường, với đồng bọn, đọc sách, đi chơi hay mơ mộng hão huyền nữa. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng mỗi buổi sáng khi thức dậy, tôi có cảm nghĩ vô cùng kinh hãi vì sắp phải trải qua một ngày dài đằng đẳng nữa. Tôi ngồi hết giờ này đến giờ khác trong thư viện của trường đại học, mà vẫn không lấy đủ dũng khí để vào lớp. Tôi ngồi đó, nhìn ra cửa sổ, rồi lại nhìn những cuốn sách của tôi, sắp xếp rồi đổi chỗ của chúng cho nhau mà không hề mở sách và nghĩ tới việc từ bỏ trường đại học. Cuối cùng, khi tôi bước vào lớp, tôi đi như không có chủ đích vậy. Tôi thấy vô vị và đớn đau. Tôi hiểu được rất ít những gì đang xảy ra ở xung quanh. Tôi có cảm nghĩ rằng chỉ có chết chóc mới giải thoát tội khỏi cảm nghĩ nặng nề của sự kém cỏi và tồi tệ đang bao trùm quanh mình. Tôi thấy vô cùng đơn độc và cảm nghĩ ấy càng nặng nề thêm khi tôi nhìn các bạn trong lớp trò chuyện với nhau như hoạt hình vậy. Tôi khởi đầu không trả lời smartphone nữa và ngồi rất lâu trong buồng tắm nóng, với một kỳ vọng hão huyền rằng nó có thể giúp tôi thoát khỏi chết chóc và sự buồn thảm.

Thỉnh thoảng, thời kỳ hoàn toàn suy sụp này trở nên tệ hại hơn, do tâm trạng rối bời. Đầu óc tôi vẫn lướt nhanh từ đề tài này sang đề tài khác, nhưng thay vì nảy sinh những ý tưởng đẹp đẽ và có trật tự như những lần tư duy nhanh trước kia, tôi lại chỉ thấy toàn những tiếng động và hình ảnh kỳ quái của sự đổ nát và chết chóc. Này là xác người chết trên bờ biển, xác động vật được hỏa thiêu và những thi thể chân đeo thẻ nhận dạng trong nhà xác. Vào những lúc tâm trí rối bời như vậy, tôi chỉ có một phương pháp để làm dịu nó xuống, này là chạy dọc bờ biển hoặc đi đi, lại lại trong phòng như một con gấu bắc cực trong vườn thú vậy. Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra và tôi có cảm nghĩ rằng tôi không thể nhờ ai trợ giúp được. Nó không giống như tôi bị ốm, mà chỉ đơn giản là đầu óc tôi không tỉnh táo mà thôi. Cuối cùng, sau thời điểm nghe một bài giảng về chứng trầm cảm trong chương trình tâm lý ngoại khoá, tôi đã tới phòng khám bệnh dành cho sinh viên, với ý định đề xuất được bác sỹ tâm thần khám bệnh. Tôi đã tới tận cầu thang của phòng khám bệnh, nhưng rồi tôi ngồi bệt xuống, bất lực, sợ hãi và xấu hổ, không lê nổi bước chân vào, nhưng cũng không đủ dũng cảm để bỏ đi. Tôi ngồi im đó, hai tay ôm đầu, khóc nức nở trong hơn một giờ đồng hồ. Sau đó, tôi bỏ đi và không khi nào quay lại nữa. Cuối cùng sự suy sụp trong tôi cũng tự biến mất, nhưng cũng chỉ trong một thời gian vừa đủ để nó chuẩn bị cho một đợt tấn công mới.

Tuy nhiên, trong mỗi khúc tồi tệ của cuộc sống, tôi hình như lại được bù đắp bằng một sự may mắn nào đó. Một trong những lần như vậy đã xảy ra trong năm học trước nhất của tôi ở trường đại học. Tôi đăng ký học chương trình tâm lý cá nhân của khoá trên. Giáo sư đã nêu ra những cách nhận xét khác nhau về tư cách và khả năng hiểu biết. Ông xòe những con bài Roarschach ra trước lớp và yêu cầu chúng tôi viết phản ứng của mình. Những năm thơ ấu ngắm nhìn mây trên trời và đuổi theo những hình ảnh của nó cuối cùng đã có ích. Đầu óc tôi hôm ấy như cất cánh lên. Tôi chẳng biết Chúa đã lập trình sẵn những gì trong gien của tôi, mà tôi cắm đầu cắm cổ viết hết trang này sang trang khác. Nghĩ lại, tôi thấy này là những phản ứng rất kỳ lạ. Lớp rất đông sinh viên nên bài trả lời của chúng tôi được chuyển dần lên trên để nộp cho giáo sư. Ông rút một cách ngẫu nhiên một số bài và đọc to cho cả lớp nghe. Giữa chừng, tôi nghe thấy một số đoạn trích quen quen và vô cùng ngạc nhiên khi nhận thấy này là nội dung của mình. Một số đoạn khá khôi hài, nhưng một vài đoạn rất kỳ quái, hay tối thiểu là tôi cảm thấy thế. Cả lớp cười, còn tôi thì xấu hổ, cúi mặt nhìn xuống chân mình.

Sau khoảng thời gian đọc xong những trang viết dày đặc của tôi, giáo sư yêu cầu người viết những phản ứng mới mẻ này sau giờ học ở lại gặp ông. Tôi tin rằng là một nhà tâm thần học, có vẻ ông đã nhìn thấy các vấn đề tâm lý của tôi. Tôi hoảng sợ. Khi đó tôi nghĩ chắc ông đã thấy tôi là một người vô cùng stress, khá kiên quyết, nghiêm túc, nhưng có thể đang gặp nhiều chuyện phiền toái. Tôi nhận thấy rằng mình đang vô cùng mất bình tĩnh và tôi nghĩ có vẻ ông cũng từng thấy rõ mọi chuyện của tôi. Ông đề xuất tôi cùng ông đi bộ về phòng làm việc của ông. Trong lúc tôi đang có hình dung ra cảnh mình bị mang vào khoa tâm thần của phòng khám, thì ông nói, trong suốt thời kỳ dạy học của mình, chưa khi nào ông gặp một bài luận có phản ứng sinh động” đến thế với Roarschach. Ông rất tốt bụng, gọi một vài ý tưởng của tôi là sáng tạo, trong lúc tôi nghĩ rằng lẽ ra nó phải được gọi là tâm thần. Này là bài học trước nhất của tôi về hạn chế phức tạp và mong manh giữa những tư duy kỳ quái và bình thường. Tôi bị đầy trí tuệ, khi ông coi những gì tôi viết ra là tích cực, hơn là những tư duy bệnh hoạn.

Giáo sư hỏi lại lịch của tôi. Tôi nói với ông rằng tôi là sinh viên năm thứ nhất, muốn trở thành bác sỹ và tôi phải làm việc để có tiền học. Ông chỉ cho tôi quy định của trường đại học, theo đó tôi không được phép theo học chương trình của ông, bởi vì nó được dành cho sinh viên những năm cuối. Tôi nói, tôi biết quy định này, nhưng tôi thích học, vả lại quy định này hình như là rất tuỳ tiện. Ông cười phá lên. Tôi chợt nhận thấy rằng cuối cùng tôi đã được sống trong môi trường, mà ở đó tính độc lập của tôi được tôn trọng. Đây không phải là cô Courtnay và tôi cũng không được trông đợi phải nhún chân. Ông nói với tôi rằng trong dự án phân tích của ông có một chân trợ lý trong phòng thử nghiệm và ông hỏi tôi có muốn nhận việc này không. Tôi quá sung sướng, vì điều đó có nghĩa là tôi có thể từ bỏ công việc thu tiền ở cửa tiệm bán quần áo phụ nữ, vừa buồn chán vừa bận rộn. Ngoài ra với công việc mới này, tôi có thể học cách phân tích.

Công việc đã mang lại cho tôi những kinh nghiệm tuyệt vời. Tôi học cách mã hoá và phân tích dữ liệu, lập trình PC, đọc các bài giảng, vạch plan phân tích và viết các bài phân tích khoa học để xuất bản. Vị giáo sư mà tôi giúp việc đang phân tích về cấu trúc tính cách cá nhân và tôi thấy ý tưởng phân tích sự khác biệt của người này với những người khác là vô cùng thú vị. Tôi đắm chìm trong công việc và phát xuất hiện rằng đây không chỉ là nguồn phân phối tri thức, nguồn thu nhập tài chính, mà đang là phương pháp để tôi giải thoát nữa. Khác với những giờ ngột ngạt trên lớp – và cũng khác với hầu như các chương trình làm việc trên toàn cầu được xây dựng trên giả thuyết rằng tâm trạng và khả năng làm việc của con người là ổn định và vững chắc – công việc phân tích cho phép người ta độc lập và có chương trình làm việc linh hoạt, điều mà tôi rất thích. Các nhân viên hành chính trường đại học không quan tâm đến sự thay đổi tính khí và khả năng làm việc theo mùa, vốn là một phần trong cuộc sống của hầu như những người mắc chứng hưng-trầm cảm, cho dù họ đã được thông báo về việc này. Kết quả là học bạ những năm đại học của tôi thỉnh thoảng lại có những lớp tôi không đủ điểm hoặc chưa hoàn thiện chương trình học. Thật may là những bài phân tích của tôi đã bù đắp được những điểm thiếu này. Tâm trạng thay đổi thất thường và tái phát liên tục, cùng với sự suy sụp tồi tệ đã làm cho tôi phải trả giá đắt cả về cuộc sống cá nhân lẫn kết quả học tập trong những năm đại học.

Năm 20 tuổi, sau hai năm học đại học, tôi được tạm thời thoát khỏi những rắc rối ở trường trong một năm, để trở thành sinh viên của Trường Đại học St. Andrews ở Xcốtlen. Khi đó, anh trai tôi và một người anh em họ đang học tại các trường đại học ở Anh và họ gợi ý tôi sang đó với họ. Tuy nhiên, tôi đã chịu ràng buộc khá mạnh của âm nhạc và thơ ca Xcốtlen, mà bố tôi vẫn yêu thích và tôi cũng bị quyến rũ trước vẻ u sầu và rực cháy của người Xentơ. Tôi có cảm nghĩ rằng mình gắn bó với phần gốc tích tổ tiên Xcốtlen, cho dù khi đó tôi cũng đồng thời muốn tránh xa tâm trạng buồn chán và dị thường của bố tôi. Tôi có cảm nghĩ mơ hồ rằng tôi có thể hiểu rõ hơn tâm trạng và tư duy thất thường của mình, nếu như tôi trở lại với cội nguồn, theo một nghĩa nào đó. Tôi làm đơn xin trợ cấp của liên bang và nhờ khoản tiền này, lần trước nhất tôi trở thành sinh viên học đầy đủ thời gian. Thế là tôi rời Los Angeles một năm để theo học khoa học vào ban ngày và học nhạc, thơ vào ban tối.

Tp St. Andrew, theo lời người trợ giáo của tôi, là nơi duy nhất anh ta biết tuyết rơi ngang. Anh ta là một nhà thần kinh học xuất sắc, cao lêu nghêu và có khiếu khôi hài của người Yorkshire. Giống như những người Anh đồng hương khác, anh ta tin rằng thời tiết đẹp và văn minh đều chấm hết từ vùng nông thôn của Xcốtlen. Anh ta có lý khi nói về thời tiết. Tp St. Andrew cổ kính, toàn đá xám, nằm sát bờ Biển Bắc, phải hứng chịu toàn bộ những cơn gió mạnh cuối Thu và suốt mùa Đông, nên những ai đã từng trải qua đều có thể tin vào điều anh ta nói. Tôi sống ở Xcốtlen vài tháng trong khoảng thời gian này, nên tôi hoàn toàn tin vào lời anh ta. Gió biển đã quật dữ dội vào khu bãi cát ở phía Đông tp, nơi có phòng thử nghiệm sinh vật biển của trường đại học.

Khoảng một chục sinh viên năm thứ ba của khoa động vật học chúng tôi ngồi co ro, run lập cập và mặc dù đã mặc đủ loại áo len, tất len mà hai hàm răng vẫn va vào nhau lập cập, trong căn phòng thử nghiệm nhỏ và lạnh đến kinh khủng của nhà trường. Người trợ giáo hình như càng lúng túng hơn vì sự có mặt của tôi trong chương trình động vật học cao hơn mức mà lẽ ra tôi phải theo học. Anh ta là người có uy tín về cái mà người ta có thể nghĩ là một phần trọng yếu của toàn cầu động vật, này là thần kinh thính giác của châu chấu. Ngay trước khi mang ra nhận xét về tuyết rơi ngang ở Xcốtlen, anh ta đã làm cho tôi phải bộc lộ sự ngu dốt đến kinh khủng của mình về động vật học.

Khi đó chúng tôi có nhiệm vụ ghi lại dòng điện sinh học trong thần kinh thính giác của châu chấu. Toàn bộ các sinh viên khác đều đã phân tích về nghề này trong nhiều năm, nên họ đều biết mổ xẻ một cách gọn ghẽ từng phần của con châu chấu và ghi lại kết quả thử nghiệm. Tôi không biết phải bắt nguồn từ đâu và người trợ giáo của tôi đã nhận thấy điều đó. Tôi đắn đo không hiểu vì sao trường lại xếp tôi vào chương trình phân tích khoa học ở cấp này. Tôi lấy một con châu chấu ở trong lồng ra – tôi cố kéo dài thời gian ở trong phòng sâu bọ vì nó được sưởi ấm và cuối cùng cũng lần được tới vùng cánh, ngực và đầu của châu chấu. Việc này so với tôi không phải là quá lạ lẫm. Tôi có cảm nghĩ rằng cái bóng cao lêu nghêu của người trợ giáo đang ở ngay phía sau. Quay lại, tôi thấy nụ cười mỉa trên gương mặt của anh ta. Anh ta bước lên bảng, vẽ một con châu chấu, khoanh tròn vùng đầu của loài vật và nói bằng một giọng đặc tiếng địa phương: “Cô Jaminson, để cho cô hiểu thêm, đây là đầu”. Cả lớp ồ lên. Tôi cũng vậy. Tôi hiểu rằng tôi đành phải cam chịu tụt lại phía sau trong năm học này. Đúng là tôi đã bị tụt lại, nhưng tôi cũng học hỏi được rất nhiều và năm học này cũng có rất nhiều điều thú vị. (Giải trình về thử nghiệm châu chấu trong phòng thử nghiệm đã chứng minh rằng tôi đã tham gia vào chương trình lớp trên của mình. Sau khoảng thời gian trình bày chị tiết phương pháp thực hành thử nghiệm, giải trình của tôi viết: “Đầu, cánh và chân được cắt ra khỏi con châu chấu. Sau khi phần mình được mổ ra, để lộ các túi khí, ta thấy thần kinh thính giác nằm ở đây, chạy xuyên vào giữa, để tránh những phản ứng có thể có của thần kinh trung ương”. Cuối cùng, giải trình của tôi tổng kết: “Do hiểu sai và thiếu hiểu biết về những gì đang xảy ra, tôi đã không thử nghiệm việc kích thích âm vực rộng của châu chấu. Khi tôi hiểu ra vấn đề, thì thần kinh thính giác của châu chấu đã lịm đi. Và tôi cũng vậy”.

Tuy nhiên, việc phân tích động vật không xương sống rõ ràng là rất có lợi. Trước hết, khác với ở khoa tâm thần, bạn có thể ăn đối tượng phân tích của mình, nhất là những con tôm hùm tươi rói, vừa bắt ở biển lên và ngon tuyệt. Chúng tôi nấu chúng trong những chiếc cốc thử nghiệm trên đèn Bunsen. Đến tận khi giáo viên của chúng tôi lưu ý rằng “không phải các thầy cô trong trường không biết một số con vật nghiên cứu đã bị biến khỏi bể nuôi vào ban đêm”, thì mưu toan cải tổ, ngoài bữa ăn ở trường của chúng tôi mới chấm hết.

Năm đó, tôi thường đi bộ dọc bờ biển hay xuyên qua tp và ngồi hàng tiếng đồng hồ nghiền ngẫm và viết lách giữa những đống đổ nát của tp cổ. Tôi luôn cố hình dung ra nhà thờ Đức Bà đã từng có dáng vẻ như vậy nào ở thế kỷ 12 và giữa những ô cửa sổ bằng đá trống rỗng hiện tại là những tấm kính màu sặc sỡ như vậy nào. Tôi cũng không bỏ những sự kiện kéo chuông, với nghi thức hầu hết còn nguyên sơ vào sáng Chủ nhật hàng tuần tận nhà thờ của trường đại học. Cùng với trường đại học, nhà thờ này được xây dựng từ đầu thế kỷ 15. Những truyền thống học tập và tôn giáo từ thời xa xưa đã được hoà quyện vào nhau một cách đầy huyền bí và kỳ lạ. Chiếc áo choàng dầy, màu đỏ tươi của sinh viên đại học, nghe nói là nó mang màu sắc tươi rói này theo một chỉ dụ của Vua Xcốtlen hồi Vương quốc này mới thành lập. Khi đó, sinh viên được xem là có thể gây rủi ro cho Nhà nước, nên cần phải được đơn giản nhận diện. Trang phục của họ quả là tạo ra sự tương phản rõ rệt với những toà nhà xám xịt của tp. Sau lễ nguyện cầu ở nhà thờ, các sinh viên mặc áo choàng đỏ lại diễu hành tới tận đầu cầu cảng tp, làm tăng thêm sự tương phản giữa họ với nền trời và mặt biển xám ngoét.

Này là một nơi đầy huyền bí, để lại trong tôi biết bao ký ức. Tôi nhớ những đêm trời lạnh và sáng, nhớ những người đàn ông và phụ nữ trong trang phục dạ hội, mang những đôi găng tay dài, khăn quàng lụa, mặc váy truyền thống hay những chiếc khăn carô vắt trên vai những người phụ nữ mặc áo choàng lụa, dài sát đất rất trang nhã. Tôi nhớ những trận bóng như không khi nào kết thúc. Nhớ những buổi tiệc tối, kéo dài tới tận đêm khuya, với cá hồi, giăm bông, thịt thú mới săn, quả anh đào, rượu uytxki và thịt lợn. Tôi nhớ những chiếc áo choàng màu đỏ tươi của sinh viên, trên xe đạp, trong những buổi tiệc tối, trên giảng đường, trong vườn và trên nền cỏ vào dịp cắm trại mùa xuân. Tôi nhớ những buổi tối hò hát và trò chuyện đến tận đêm khuya với các bạn Xcốtlen cùng phòng. Tôi nhớ những vật dài thủy tiên hoa vàng và cây hoa chuông trên những quả đồi sát mép biển. Nhớ những đám rong biển, đá cuội và cả những con sao biển nằm phơi mình trên bãi cát vàng. Tôi nhớ sự kiện đẹp đến mê hồn trong nhà thờ khi kết thúc khoá học. Tôi nhớ sinh viên đại học trong những bộ áo choàng dài màu đỏ tươi và những sinh viên đã tốt nghiệp trong chiếc áo ngắn màu đen xám. Nhớ những bài hát mừng trong dịp Giáng sinh thượng cổ mà tinh tế. Nhớ những chiếc đèn treo hình vương miện và bục gỗ dành cho dàn đồng ca của nhà thờ. Nhớ những buổi đọc thơ bằng cả tiếng Anh phổ thông, lẫn tiếng Xcốtlen địa phương vừa tinh tế vừa quyến rũ. Tôi rời nhà thờ vào đêm đông ấy giống như bước vào toàn cầu thượng cổ, với màu áo đỏ tươi tương phản với tuyết trắng, với tiếng chuông ngân xa và mặt trăng tròn, trong veo.

Tp St. Andrew đã hỗ trợ tôi quên đi những năm tháng thống khổ trước đó của cuộc sống. Đó vẫn là khoảng thời gian dễ thương, còn đọng mãi trong tôi. So với một nữ sinh đại học đang cố thoát ra khỏi sự thất vọng và buồn chán mà không rõ nguyên nhân như tôi, St. Andrew là một tấm bùa hộ mệnh, giúp tôi chống lại cảm nghĩ mất mát. Này là một năm đầy kỷ niệm vui vẻ. Mùa đông Biển Bắc đã trở thành mùa hè Ấn Độ trong cuộc sống tôi.

Tôi rời Xcốtlen trở lại UCLA năm 21 tuổi. Này là một sự thay đổi lớn cả về tâm trạng lẫn khung cảnh và nó đã phá vỡ nhịp sống của tôi. Tôi thấy khó hoà nhập trở lại với toàn cầu và thói quen cũ. Một năm qua, tôi không phải làm việc từ 20 đến 30 giờ mỗi tuần để duy trì cuộc sống mỗi ngày. Nay tôi lại phải vật lộn với công việc, giờ lên lớp, các hoạt động xã hội và cả tâm lý thất thường của mình nữa. Những dự tính cho cuộc sống sự nghiệp của tôi cũng bị xáo trộn. Theo thời gian, tôi ngày càng nhận rõ rằng tính khí thất thường và hiếu động của tôi là không phù phù hợp với trường y – nhất là trong hai năm đầu, do sinh viên phải ngồi nghe giảng trên lớp liên tục trong nhiều giờ. Tôi thấy khó có thể ngồi lâu đến thế và tốt nhất là tôi nên tự học. Tôi thích phân tích, viết và ghê sợ trước ý nghĩ rằng mình có thể bị trói chặt vào một chương trình nào đó của trường y. Ngoài ra, tôi đã được đọc công trình phân tích tâm lý vĩ đại của William James, nhan đề Muôn vẻ tôn giáo, trong thời gian ở St. Andrew. Tôi ngày càng bị cuốn theo ý tưởng phân tích tâm lý, nhất là sự khác biệt về tâm trạng và tâm lý của con người. Khi đó, tôi cũng khởi đầu giúp việc cho một giáo sư khác trong dự án phân tích của ông. Này là công trình phân tích về tâm lý và thúc đẩy của các chất kích thích, như ma tuý, cần sa, thuốc phiện, thuốc giảm đau, thuốc an thần và thuốc kích thích tới tâm sinh lý. Ông đặc biệt quan tâm tìm hiểu nguyên nhân vì sao một số người chỉ thích một loại chất kích thích nào đó. Ví dụ, một số thích hallucinogen (một loại ma tuý gây ảo giác), trong lúc một số khác lại tìm đến với những loại ma tuý gây chán nản hoặc kích thích hưng phấn. Giống như tôi, ông là người dễ bị kích động.

See also  Bài tập điện trở, định luật ôm toàn mạch có đáp án

Vị giáo sư này cao, hay xấu hổ, nhưng rất thông minh. Tâm trạng của ông cũng rất dễ bị thay đổi. Lúc đầu, tôi làm trợ lý phân tích cho ông, sau đó tôi làm việc với tư cách là phân tích sinh bậc tiến sỹ. Thời gian làm việc cho ông đã mang lại cho tôi những kinh nghiệm tuyệt vời. Ông là một người rất sáng tạo, thích tìm hiểu và cởi mở. Ông nghiêm khắc nhưng công bình trong những đòi hỏi về tri thức. Ông rất tốt bụng và thấu hiểu sự thay đổi về tâm trạng cũng như khả năng tập trung vào công việc của tôi. Chúng tôi hiểu nhau qua trực giác và phần lớn là không nói ra, nhưng thỉnh thoảng một trong hai chúng tôi cũng nêu lên vấn đề suy sụp tâm lý. Phòng làm việc của tôi ở sát văn phòng của ông. Vào những lúc tôi rơi vào trạng thái trầm cảm, ông quan tâm hỏi tôi thấy người thế nào, mang ra một vài nhận xét như trong tôi có vẻ mệt mỏi, trầm ngâm hay chán nản và hỏi liệu ông có thể giúp tôi được gì.

Một hôm trong một cuộc trao đổi, chúng tôi phát xuất hiện rằng mỗi người chúng tôi đều đã tự xếp hạng tâm trạng của mình. Ông xếp mình trong thang 10 điểm, từ “tệ hại” tới “tuyệt vời”.

Còn tôi tự xếp mình trong khoảng từ -3 (tê liệt và hoàn toàn suy sụp) đến +3 (có tâm hồn cao thượng và có sinh khí). Cách phân loại này nhằm tìm thấy tần suất và nguyên nhân để các trạng thái tâm lý xuất hiện và biến mất. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi lại trao đổi với nhau về khả năng sử dụng thuốc chống trầm cảm, nhưng chúng tôi cũng nghi ngờ hiệu quả và lo ngại tới những tác dụng phụ của nó. Giống như nhiều người mắc chứng trầm cảm khác, chúng tôi cảm thấy tình trạng suy sụp của mình phức tạp và có căn nguyên sâu xa hơn nhiều so với những gì mà nó bộc lộ ra. Thuốc chống trầm cảm có vẻ được chỉ định cho những người bệnh tâm thần, nhưng mức nhẹ hơn, chứ không phải cho chúng tôi. Chúng tôi đã phải trả giá đắt cho thái độ của mình. Những điều chúng tôi đã được dạy dỗ và lòng tự trọng đã ngăn cản chúng tôi dùng thuốc. Mặc dù tâm trạng của tôi vẫn thay đổi liên tục – vì chứng trầm cảm của tôi luôn được báo trước bằng hiện tượng hưng phấn đến cao độ – tôi vẫn cảm thấy rằng tôi đang có một nơi trú ẩn an toàn cho những năm đại học, bằng việc làm trợ lý phân tích cho ông. Nhiều lần tôi bật đèn trong phòng làm việc để ngủ, vì không dám đương đầu với toàn cầu và khi tỉnh giấc tôi thấy chiếc áo khoác của ông trên vai tôi, cùng với một tờ giấy đặt trên PC của tôi viết “Bạn sẽ sớm cảm thấy dễ chịu”.

Tri thức và niềm vui mà công việc tôi đang làm với ông mang lại, cùng với sự ưng ý về công việc mà tôi đã làm với giáo sư từ năm học trước nhất, kết phù hợp với tác động to lớn của William James và tâm trạng không ổn định của tôi, toàn bộ đã mang tôi đến quyết định học tiến sỹ tâm lý hơn là vào trường y. UCLA khi đó, cũng như ngày nay, vẫn là trường đại học có chương trình giáo dục về tâm lý tốt nhất nước Mỹ. Tôi đệ đơn xin học và khởi đầu chương trình tiến sỹ vào năm 1971.

Ogay từ khi mới bước chân vào trường đại học tôi đã quyết định phải làm một cái gì đó với tâm trạng của chính mình. Tôi sớm đi tới sự lựa chọn giữa việc đến bác sỹ tâm thần khám bệnh, hoặc mua một con ngựa. Do hầu như những người tôi biết đều tìm đến bác sỹ tâm thần và do tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng tôi có khả năng khắc phục được những vấn đề của chính mình, nên tôi đã mua một con ngựa. Không phải bất kì con ngựa nào, mà là một con ngựa ngang bướng và rất dễ bị kích động, kiểu như ngựa Woody Allen, nhưng không có khả năng mua vui. Tất nhiên là tôi hình dung ra cảnh giống như Bạn Flicka của tôi, con ngựa sẽ nhận thấy tôi từ xa, vẫy vẫy đôi tai chờ nghe một lời khen, hí lên vui vẻ, rồi chạy nước kiệu tới bên tôi, sục mõm vào ống quần tìm đường hay cà rốt. Tuy nhiên, cuối cùng tôi lại mua phải một con ngựa rất nóng vội, hay bị què chân và chẳng lấy gì làm tinh khôn cho lắm. Nó rất sợ rắn, người, thằn lằn, chó và những con ngựa khác, đại loại là sợ bất kì thứ gì mà nó thường phải gặp trong cuộc sống. Vì vậy, thỉnh thoảng nó lại dựng ngược trên hai chân sau rồi lồng lên chạy tứ tung. Tuy nhiên, trong những điều rủi cũng có những cái may. Mỗi khi leo lên lưng ngựa là tôi lại quá sợ hãi, tới mức quên cả bị trầm cảm. Còn khi bị điên thì tôi cũng chẳng còn biết suy xét gì nữa, nên những cú phi như điên như dại ấy lại trở nên rất phù phù hợp với tâm trạng của tôi.

Thật tiếc là quyết định mua ngựa của tôi không chỉ điên khùng, mà còn ngu xuẩn nữa. Tôi phải rút tiền từ chương trình bảo hiểm y tế sinh viên để lấy tiền chi cho ngựa. Ngoài việc đóng móng và mua yên ngựa – và theo yêu cầu của thú y, thỉnh thoảng tôi phải có lợi cho sức khỏe cho nó bằng những bữa ăn tốn kém dành riêng cho ngựa – tôi còn phải mua những bộ móng đặc biệt để trị bệnh đau chân cho nó. Những cái móng này đắt hơn nhiều so với giày của Gucci và NeimanMarcus và sau thời điểm nghiến răng mua chúng, tôi mới hiểu rõ nguyên nhân vì sao người ta bán cả ngựa lẫn những người buôn ngựa. Tôi chợt nhận thấy rằng mình không phải là các nhà tư sản Mellon hay Rockefeller. Tôi bán ngựa, đơn giản như người ta đánh đi con Q pich vậy và khởi đầu có mặt thường xuyên trên giảng đường của UCLA.

Chương trình sau đại học đã hỗ trợ tôi tìm lại niềm vui mà tôi để mất trong những năm đại học. Trong chừng mực nào đó, đây là sự tiếp nối của mùa hè Ấn Độ mà tôi đã được tận hưởng ở St. Andrew, Nhìn lại những năm đó, bằng nhãn quan y học điềm tĩnh mà mãi sau này tôi mới có được, tôi nhận thấy rằng mình đã trải qua cái mà người ta gọi là sự lắng dịu giả tạo giữa những cơn rối loạn thường xuyên tái phát trong những năm đầu của bệnh hưng – trầm cảm, mà không cần chữa trị. Ngày ấy chưa có bất kì từ nào, tên gọi của một loại bệnh nào, hay một khái niệm nào trổ tài một cách có ý nghĩa sự thay đổi tâm trạng nhanh và mạnh mà tôi đã trải qua.

Chương trình sau đại học không chỉ giải thoát ột cách tương đối cho tôi khỏi chứng bệnh của chính mình, mà còn khiến cho tôi thoát khỏi những ràng thắt chặt chẽ so với sinh viên đại học. Mặc dù tôi bỏ hơn một nửa số giờ học chính thức, nhưng điều đó cũng không có gì phiền toái lắm. Chừng nào mà kết quả cuối cùng đã đoạt được, thì giờ học sẽ không còn trọng yếu nữa. Đây cũng là thời điểm tôi thành thân với một họa sỹ người Pháp. Anh không chỉ là một họa sỹ tài năng, mà đang là một người rất tốt bụng và nhã nhặn. Tôi và anh đã từng gặp nhau từ đầu những năm 1970, trong một bữa ăn giữa buổi cùng những người bạn của chúng tôi. Này là thời kỳ có mốt để tóc dài, thời kỳ của những bất ổn xã hội, thời kỳ của những sinh viên được miễn quân dịch và thời kỳ của những cuộc biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Tôi thấy tâm hồn như dịu lại khi tìm thấy ở anh, giống như một sự thay đổi vậy, một người thờ ơ với chính trị, rất thông minh và say mê văn nghệ. Chúng tôi rất khác nhau, nhưng lại thích nhau ngay nhanh chóng. Chúng tôi nhanh chóng nhận thấy rằng chúng tôi có chung tình yêu với hội họa, âm nhạc và toàn cầu tự nhiên. Khi đó, tôi có xúc cảm rất mạnh mẽ và vào những lúc không suy sụp, trong tôi lại tràn ngập mong ước có một cuộc sống vui vẻ, thành đạt trên đoạn đường học vấn và con cháu đầy nhà. Những bức ảnh ngày đó cho thấy anh lúc nào cũng là một người đàn ông cao, rất đẹp trai, tóc đen, trang nhã và có đôi mắt nâu, trong lúc chụp cùng với anh lại là tôi, một phụ nữ ở độ tuổi 25 rất hay thay đổi. Trong một bức ảnh, người phụ nữ ấy cười, đội mũ mềm và tóc dài cất cánh trong gió. Trong một bức ảnh khác, cô ta lại tỏ ra đăm chiêu, vẻ nghiền ngẫm, trông già trước tuổi và trong bộ quần áo không loè loẹt nhưng tẻ nhạt. Mái tóc của tôi, giống như tâm trạng của tôi, hết dài lại ngắn. Có những lúc tôi để tóc dài tới mức tôi có cảm nghĩ như mình bị chìm giữa mái tóc. Thế rồi, với ý nghĩ rằng một sự thay đổi cơ bản có thể có ích, tôi liền cắt tóc ngắn tới vai. Tâm trạng của tôi, mái tóc của tôi và trang phục của tôi, luôn thay đổi hàng tuần và hàng tháng. Trong lúc đó, chồng tôi lúc nào cũng vẫn thế. Chúng tôi hình như luôn bổ sung tính khí cho nhau.

Vài tháng sau cuộc gặp ấy, chúng tôi sống cùng nhau trong một căn hộ nhỏ ở gần biển. Này là quãng thời gian khá bình lặng, một cuộc sống bình thường, với những buổi đi xem phim, chơi bời với đồng bọn và những chuyến du lịch tới Big Sur, San Francisco và Yosemite. Cuộc hôn phối tốt đẹp, sự thân thiện của những người bạn và những đòi hỏi không quá lớn về tri thức trong chương trình sau đại học đã trở thành những nhân tố trọng yếu tạo ra một toàn cầu tĩnh lặng và an toàn cho tôi.

Tôi khởi đầu bằng việc phân tích tâm lý thực nghiệm, nhất là tập trung vào khía cạnh tâm lý và toán học của ngành nghề này. Tuy nhiên, sau vài tháng phân tích điều trị tại Bệnh xá Maudsley ở Luân Đôn – mà tôi kết thúc ngay trước khi gặp chồng tôi – tôi đã quyết định chuyển sang ngành nghề tâm lý điều trị. Tôi ngày càng quan tâm tới ngành nghề này, cả vì nguyên nhân cá nhân lẫn chuyên môn. Công việc của tôi, trước đó tập trung vào các phương pháp thống kê, sinh học và tâm lý thực nghiệm, nay chuyển sang tâm thần dược học, tâm thần học, các phương pháp điều trị và liệu pháp tâm lý. Tâm thần bệnh học – nghề khoa học phân tích về rối loạn tâm thần – thực ra là rất thú vị. Tôi phát xuất hiện rằng việc khám cho người bệnh không chỉ mê hoặc, mà đang là một đòi hỏi cả về tri thức lẫn nhu cầu cá nhân của tôi nữa. Mặc dù chúng tôi được dạy cách chẩn đoán bệnh, nhưng trong thâm tâm tôi không hề gắn bất kì những gì tôi đã từng trải qua, với những hiện tượng được mô tả là triệu chứng của bệnh hưng – trầm cảm trong sách giáo khoa. Kết quả là trái với hội chứng của các sinh viên y khoa – thường có cảm nghĩ là họ đang mắc bất kì chứng bệnh nào mà họ đang phân tích – tôi lại rất vô tình đi hết chương trình học tập của mình mà không hề gắn nó với bất kì sự thay đổi tâm trạng nào của mình. Khi nhìn lại sự việc này, tôi thấy sự thờ ơ của mình là không thể hiểu nổi, nhưng tôi cũng nhận thấy rằng nhờ nó mà tôi đã thoải mái hơn các bạn của mình trong việc điều trị người bệnh tâm thần.

Vào thời điểm đó, cả trong tâm lý điều trị lẫn trong các chương trình điều trị tập trung người bệnh tâm thần, chứng rối loạn tâm thần vẫn được gắn với tâm thần phân liệt, hơn là với chứng hưng-trầm cảm. Vì vậy tôi học được rất ít về những hình thức rối loạn tâm thần. Khi đó, thuyết phân tâm học vẫn còn bao trùm. Vì vậy trong hai năm điều trị người bệnh trước nhất, tôi luôn bị các nhà phân tâm học giám sát chặt chẽ. Trọng tâm điều trị khi này là tìm hiểu những trải nghiệm và xung khắc trước đó của người bệnh. Mong ước và biểu tượng, cùng cách diễn giải chúng, tạo dựng nên cốt lõi của tâm lý liệu pháp. Cách tiếp cận mang tính y học hơn so với tâm lý liệu pháp – tức là tập trung vào chẩn đoán, các hiện tượnh điều trị bằng thuốc – chỉ xuất hiện sau thời điểm tôi đã khởi đầu chương trình thực tập ở Viện Tính năng thần kinh của UCLA. Mặc dù trong nhiều năm tôi đã có nhiều điểm không tán đồng với thuyết phân tâm học – nhất là các nhà phân tâm học vẫn phản đối việc điều trị người bệnh rối loạn tâm thần nặng bằng thuốc, mặc dù từ lâu đã có những bằng chứng rất rõ ràng rằng Lithi và thuốc chống suy nhược có hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ điều trị bằng liệu pháp tâm lý – tôi vẫn thấy nhiều khía cạnh của tư tưởng phân tâm học trong tâm lý trị liệu là vô giá. Theo thời gian, tôi đã để rơi rụng nhiều tri thức về phân tâm học, nhưng những gì tôi được huấn luyện là rất thú vị. Tôi chưa khi nào tìm hiểu sự phân biệt tuỳ tiện và không thiết yếu giữa tâm thần “sinh học”, nhấn mạnh tới nguyên nhân và cách điều trị bệnh tâm thần, với tâm lý học “chức năng”, nhấn mạnh tới những triệu chứng trước đó, tới cấu trúc tính cách cá nhân, sự xung khắc, động cơ và những tư duy vô thức trước đó của người bệnh.

Cực đoan khi nào cũng ngu xuẩn và tôi đã phải sửng sốt trước mức độ vô lý mà tư tưởng không đồng ý sự chỉ trích có thể rơi vào. Một lần, trong chương trình huấn luyện, chúng tôi được học cách xác minh tâm lý, trong đó có xác minh trí thông minh, sử dụng Thước đo thông minh ở người lớn của Wechsler (WAIS) và phương pháp xác minh tính cách cá nhân của Rorschach (test tâm lý của Rorschach). Đối tượng thực nghiệm trước nhất của tôi chính là chồng tôi. Là một họa sỹ, nên không có gì ngạc nhiên khi anh đạt điểm rất cao trong phần xác minh khả năng tưởng tượng của WAIS. Trong phần này, anh phải giải thích làm thế nào để lắp ghép các khối thiết kế săn lại với nhau. Trong phần phần xác minh Rorschach, phản ứng của anh rất mới mẻ, tới mức tôi chưa hề tái ngộ phản ứng nào tương tự kể từ ngày đó. Trong phần xác minh “Vẽ một nhân vật”, tôi thấy anh rất chú tâm, vẽ nắn nót và chậm rãi. Tôi có cảm nghĩ như anh đang vẽ một bức chân dung tự họa. Cuối cùng anh mang bức tranh cho tôi, thì này là bức vẽ rất tỉ mỉ một con đười ươi mà cánh tay của nó vươn dài ra tận mép tờ giấy.

Tôi nghĩ đây là kết quả xác minh tuyệt diệu. Tôi mang cả kết quả xác minh WAIS, Rorschach và “Vẽ một nhân vật” của anh cho giáo viên giám sát phần xác minh tâm lý của tôi. Bà ta là một người theo thuyết phân tâm học, giáo điều và không biết khôi hài. Bà ta dành hơn một giờ đồng hồ để diễn giải một cách ngốc nghếch và võ đoán về những xúc cảm mãnh liệt nguyên thủy và bị dồn nén của chồng tôi, về những xung đột trong nội tâm, về sự tranh chấp trong tư tưởng, về bản chất khó gần và về tính cách cá nhân vô cùng lộn xộn của anh. Người mà nay đã là chồng cũ của tôi, người mà trong suốt 25 năm trời tối chưa hề thấy anh nói dối, nay bỗng được gán cho nhãn hiệu là thiếu tính xã hội; một người đơn giản, thẳng thắn và lịch thiệp nay được diễn giải là một người có rất nhiều nỗi lo âu, xung đột trong nội tâm và rất dễ nổi xung. Toàn bộ chỉ vì anh đã làm khác người trong bài xác minh. Thật vô lý. Quả thật so với tôi, điều ấy hài hước tới mức tôi phải bật cười không nhịn được. Điều này càng làm cho bà ta thêm giận dữ và tệ hại hơn là bà lại tiếp tục những lời diễn giải khác nữa về anh. Tôi giận sôi lên, cười nhạo, bước ra khỏi phòng bà ta và từ chối không viết giải trình xác minh. Khỏi cần phải nói, việc này lại cũng được bà ta mang ra mổ xẻ và phân tích.

Hầu như những gì mà tôi thực sự học được là thông qua một số lượng lớn, với đủ loại bệnh . nhân, mà tôi đã chẩn đoán và điều trị trong thời gian thực tập ở phòng khám trước khi trở thành tiến sỹ. Trong thời gian này tôi cũng hoàn thiện hai chương trình học phụ về dược lý tâm thần và cách hành xử của động vật. Tôi đặc biệt thích môn cách hành xử của động vật, nên ngoài chương trình của khoa tâm lý ra, tôi còn tham gia chương trình sau đại học của khoa động vật học. Chương trình động vật học này tập trung phân tích đời sống sinh học của các loài động vật có vú sống ở dưới nước. Chương trình này không chỉ phân tích khía cạnh sinh học và lịch sử tự nhiên của rái cá biển, hải cẩu, sư tử biển, cá voi và cá heo, mà còn phân tích cả những cách thức, như khả năng điều chỉnh tim mạch ở sư tử biển và cá voi cho phù phù hợp với hoạt động bơi lặn, hay hệ thống thông tin của cá heo. Chương trình học tập này chỉ là để biết, nhưng tôi yêu thích nó. Không có bất kì điều gì tôi học được ở đây có liên quan tới những gì tôi đang học và đang làm, nó cũng không liên quan gì đến công việc của tôi từ ngày đó đến nay, nhưng này lại là chương trình học tập thú vị nhất của tôi trong thời kỳ sau đại học.

Các bài xác minh cứ lần lượt đến rồi lại đi. Tôi chọn đề tài nghiện ma tuý chán ngấy cho luận án tiến sỹ của mình và vì vậy tôi cũng từng viết một bài luận văn tả ngắt về đề tài này. Sau hại tuần luyện thi stress, nỗ lực nhồi vào đầu bất kì thứ gì có thể, tôi bước vào phòng thi. Năm giám khảo mặt nghiêm trang ngồi quanh một chiếc bàn. Tôi ngồi xuống và trình bày từ đầu đến cuối cái mà người ta vẫn quen gọi một cách lịch thiệp là Bài xác minh miệng cuối cùng, còn nếu nói một cách đúng đắn hơn và có vẻ quân sự hơn thì là bảo vệ luận án của mình. Hai giám khảo là các giáo sư mà tôi đã từng trợ giúp trong nhiều năm, một người khá dễ dãi so với tôi; còn người kia, có vẻ cố tỏ ra không thiên vị, đã hỏi tôi một cách không thương xót. Một trong ba nhà tâm thần dược học, người duy nhất không phải là giáo sư thường xuyên, hình như cố ý gây khó khăn cho tôi. Hai giám khảo sót lại, các giáo sư thường xuyên cảm thấy rằng vị giám khảo kia đã đi quá xa khi căn vặn quá sâu vào những cụ thể vụn vặt của số liệu thống kê và đề cương phân tích, đã yêu cầu ông trở về với thực tiễn. Sau ba giờ đồng hồ vận dụng mọi tri thức để bảo vệ luận điểm của mình, giống như vũ công ba lê trên sân khấu, tôi rời phòng xác minh và đứng ở hành lang, chờ các giám khảo bỏ phiếu. Sau khoảng thời gian phải chịu đựng khoảnh khắc vô cùng stress ấy, tôi trở lại phòng thi. Vẫn năm người đàn ông ấy, những người chỉ vài giờ trước đó hình như rất nhẫn tâm và không có thiện cảm, thì giờ đây họ mỉm cười, chìa tay ra bắt tay tôi và toàn bộ cùng nói: Xin chúc mừng. Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Lễ tốt nghiệp trong giới học thuật cũng có vẻ lãng mạn riêng của nó. Mọi stress và những khó khăn của luận án và bài xác minh miệng cuối cùng đã được nhanh chóng quên đi, nhường chỗ cho những giây phút tuyệt vời sau đó, được tiếp nhận vào câu lạc bộ đã có từ lâu đời, tham gia tiệc chúc mừng, với những cốc rượu anh đào, dự lễ trao bằng học vị được khoác trên mình bộ áo dành cho tiến sỹ, và lần trước nhất được nghe từ “Tiến sỹ”, thay cho từ “Cô” Jaminson. Tôi được nhận vào làm giáo sư trợ giảng trong Khoa Tâm thần học của UCLA. Lần trước nhất trong cuộc sống, tôi được dành một chỗ đỗ xe tốt, được tham gia câu lạc bộ dành riêng cho giáo viên đại học và khởi đầu phấn đấu trên nấc thang học vấn. Tôi đã có một mùa hè vinh quang – và một mùa hè quá rực rỡ so với tôi – vì chỉ ba tháng sau thời điểm trở thành giáo sư, tôi mắc bệnh tâm thần nặng.

PHẦN II 

ĐIÊN KHÔNG ĐẸP THẾ

TÂM HỒN BAY BỔNG

Có một cái gì đó rất đớn đau, phấn khởi, cô quạnh và hoảng sợ trong loại bệnh điên này. Khi hưng cảm, mọi thứ thật tuyệt diệu. Ý tưởng và cảm nghĩ lướt qua rất nhanh và thường xuyên xuất hiện như những người nổi tiếng băng vậy. Bạn cứ đuổi theo nó mãi, cho tới khi bạn tìm thấy những ý tưởng tốt hơn và tươi đẹp hơn. Sự rụt rè đột nhiên biến mất, những lời nói và cử chỉ đúng mực luôn xuất hiện đúng lúc là bạn tin rằng mình đang có sức mạnh quyến rũ người khác. Bạn luôn tìm thấy những điều thú vị trong những người mà bình thường được xem là không thú vị lắm. Ham muốn nhục dục lan tỏa từ đầu đến chân, nhu cầu quyến rũ người khác và được quyến rũ mạnh tới mức không thể cưỡng lại nổi. Cảm nhận thanh thản, mãnh liệt, đây sức mạnh, hạnh phúc, dư dật về tài chính là phởn phơ thấm sâu trong xương tủy. Nhưng rồi đến một lúc nào đó toàn bộ đột nhiên thay đổi. Những ý tưởng lướt nhanh ấy bỗng trở nên quá nhanh và quá nhiều. Sự rối rắm thay thế cho sự mạch lạc. Trí nhớ bỗng biến mất. Nét khôi hài và mê hoặc trên gương mặt của đồng bọn được thay thế bằng sự sợ hãi và lo ngại. Toàn bộ những gì trước đó vận hành theo hướng ủng hộ bạn, thì nay quay sang chống lại bạn. Bạn trở nên gắt gỏng, giận dữ, sợ hãi, không kiểm tra được mình và hoàn toàn bị rơi vào những cái hang đen ngòm của tâm trí. Bạn không khi nào biết rằng có những cái hang như vậy. Tuy nhiên, so với người điên, những cái hang ấy là có thật và sâu thăm thẳm.

Nó cứ thế diễn ra và cuối cùng, chỉ có người khác nhớ lại những hành vi của các bạn – những cử chỉ kỳ lạ, điên cuồng và không nhằm mục đích. Chứng điên cũng có nét dễ thương của nó, khi xoá đi một phần trí nhớ của các bạn. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, sau thời điểm đã uống thuốc, tới bác sỹ tâm thần khám bệnh, vô vọng, suy sụp và sử dụng thuốc quá liều? Toàn bộ những điều đó luôn ám ảnh bạn. Tôi đã nói những gì? Ai đã biết những gì? Tôi đã làm gì? Vì sao? Và thắc mắc ám ảnh nhất là khi nào thì chuyện đó tái diễn? Sau này lại là những chuyện luôn làm cho bạn phải nhớ tới những điều ám ảnh ấy – uống thuốc, bực dọc, quên lãng, rồi lại uống thuốc, bực dọc mà quên lãng. Rồi những tấm thẻ tín dụng bị hủy bỏ, những tấm séc ngân hàng bị trả lại do không có tiền trong tài khoản để thanh toán, những thắc mắc đang chờ được giải thích và những lời xin lỗi đang chờ được mang ra. Trí nhớ lúc được, lúc mất. Bạn thân xa lánh dần và hôn phối tan vỡ. Và một thắc mắc vẫn thường trực, khi nào thì chuyện này lại xảy ra? Cảm nhận nào của mình là thực? Con người nào trong tôi là thực? Một người phóng túng, bốc đồng, rối loạn, đầy sinh lực và điên khùng? Hay một người rụt rè, lãnh đạm, vô vọng, muốn tự tử, bi đát và mệt mỏi? Có vẻ tôi là một phần của cả hai và hy Uọng là không rơi vào bên nào quá nhiều. Vận khuyến khích nhảy cầu Virginia Woolf đã nói: “Cảm giác của chúng ta nhận biết được bao nhiêu màu sắc khi lao xuống nước? Ý tôi muốn nói rằng đâu là sự thực của cảm giác?”.

Gôm đó, tôi không cần phải thức dậy mới biết là mình đã điên. Cuộc sống lẽ ra rất đơn giản. Tuy nhiên, tôi ngày càng nhận thấy rằng cuộc sống và tâm trí tôi đang vận hành với vận tốc nhanh chưa từng có. Sự vận hành ấy cứ nhanh dần, trong suốt mùa hè trước nhất của tôi với tư cách là giáo viên đại học, để rồi cuối cùng nó vỡ ra và hoàn toàn vượt ra ngoài tầm kiểm tra. Tuy nhiên, quá trình tăng dần từ tư duy nhanh đến rối loạn ấy lại diễn ra từ từ và rất quyến rũ. Lúc đầu mọi thứ hoàn toàn bình thường. Tôi trở thành thành viên của Khoa Tâm thần tháng 7-1974 và được giao nhiệm vụ điều trị và giảng dạy trong khoa người bệnh nội trú dành cho người lớn. Tôi có nhiệm vụ giám sát các bác sỹ tâm thần và hướng dẫn các thực tập sinh điều trị tâm thần về kỹ thuật chẩn đoán, xác minh tâm lý và liệu pháp tâm lý. Do tôi có tri thức về tâm thần dược học, nên tôi còn được giao giám sát một số vấn đề có liên quan đến trải nghiệm thuốc và điều trị bằng thuốc nữa. Tôi cũng là giáo viên liên lạc giữa Khoa Tâm thần và Khoa Gây mê, nơi tôi vẫn tham gia các hoạt động tư vấn, hội thảo và tiến hành một vài dự án phân tích nhỏ về khía cạnh tâm lý và y học của hiện tượng đau. Công tác phân tích của tôi đa số là viết lại những gì tôi đã từng phân tích về thuốc trong thời gian học đại học. Tôi không quan tâm nhiều lắm đến công tác điều trị và phân tích liên quan đến rối loạn tâm thần. Do tâm trạng của tôi không bị xáo trộn quá nhiều trong hơn một năm qua, nên tôi nghĩ rằng hiện tượng này có vẻ đã lui về quá khứ. Cảm nhận bình thường trong một khoảng thời gian khá dài đã làm tăng biết bao kỳ vọng, mà thực ra chỉ là nhất thời.

Tôi bắt tay vào công việc mới với biết bao lạc quan và đầy nhiệt huyết. Tôi thích thú với công tác giảng dạy, tuy lúc đầu tôi cảm thấy hơi kỳ cục khi giám sát công tác điều trị của người khác, tôi vẫn thấy yêu thích công việc của mình. Tôi phát xuất hiện rằng việc chuyển từ sinh viên thực tập sang giáo viên chính thức đơn giản hơn nhiều so với những gì tôi hình dung. Một trong những thay đổi có lợi nhất và làm cho người ta hăng say lên nhất chính là tiền lương. Việc tôi được tự do theo đuổi những mối quan tâm của mình về học vấn cũng rất thú vị. Tôi làm việc rất chăm chỉ và khi nhìn lại tôi thấy mình ngủ quá ít. Ngủ ít vừa là triệu chứng, vừa là nguyên nhân dẫn tới hưng-trầm cảm, nhưng vào thời điểm ấy tôi chưa biết điều này. Vả lại dẫu có biết thì cũng chưa chắc nó đã làm cho tôi phải hành xử khác đi. Mùa hè đem tới những đêm dài và cũng thường tạo ra sự phấn khích cao hơn trong tôi. Tuy nhiên, lần này nó đẩy tôi tới sự hưng phấn cao hơn nhiều, nguy hiểm hơn nhiều và tôi rơi vào trạng thái tâm thần chưa khi nào thấy. Mùa hè, ít ngủ, công việc ngổn ngang và gien dễ bị tổn thương, toàn bộ đã đẩy tôi vượt ra ngoài hạn chế hứng thú mà tôi thường có và rơi vào trạng thái điên.

Hàng năm, ông hiệu trưởng danh dự của trường đại học vẫn tổ chức một buổi tiệc ở ngoài vườn để đón chào những giáo viên mới của UCLA. Vô tình người sau này trở thành bác sỹ tâm thần của tôi cũng có mặt trong buổi tiệc, vì ông tham gia làm trợ giáo trong trường y. Sự có mặt của ông đã cho thấy sự phân biệt thú vị giữa những cảm nhận của chính tôi với sự xem xét lạnh lùng, có tính toán của một bác sỹ điều trị có kinh nghiệm. Bác sỹ tâm thần của tôi đột nhiên có điều kiện để theo dõi hành vi của cô thực tập sinh cũ, có đôi mắt hơi điên dại và khá điên khùng, mà ông đã giám sát một năm về trước. Theo trí nhớ của tôi, thì hôm ấy tôi hơi hứng thú. Tôi nhớ là đã trò chuyện với rất nhiều người, với cảm nghĩ rằng mình hấp kéo theo mức khó cưỡng lại nổi. Tôi chọn từ món ăn này đến món ăn khác và tôi uống rất nhiều. Tôi trò chuyện với ông hiệu trưởng danh dự khá lâu. Tất nhiên, ông hoàn toàn không biết tôi là ai, nhưng ông cũng vui lòng đứng trò chuyện rất lâu với tôi, không biết vì ông quá lịch sự, hay vì ông đang trổ tài đúng với những gì người ta vẫn đồn thổi về ông là thích phụ nữ trẻ. Cho dù ông cảm thấy thế nào đi nữa, tôi vẫn tin rằng ông đã thấy tôi là một người quyến rũ.

Tôi cũng có một cuộc trò chuyện dài và khá kỳ quặc – kỳ quặc, nhưng tôi thấy thú vị với ông chủ nhiệm khoa của chúng tôi. Ông chủ nhiệm khoa không phải là một người không xa hoa. Ông có trí tưởng tượng rất phong phú, mà không phải lúc nào cũng nằm trong khuôn khổ thông thường của y học kinh điển. Ông khá nổi tiếng trong giới tâm thần dược học, vì đã vô tình giết chết một con voi đi thuê của rạp xiếc bằng loại ma tuý gây ảo giác mạnh LSD. Này là một mẩu truyện phức tạp, liên quan đến loài động vật có vú lớn sống trên cạn, đến thuỳ thái dương, đến thúc đẩy của thuốc gây ảo giác tới hành vi bạo lực và sự tính toán nhầm liều lượng thuốc. Chúng tôi đã trao đổi khá lâu về phân tích voi và loài Hyrax. Hyrax là một loài động vật nhỏ ở Châu Phi. Kiểu dáng của nó chẳng giống voi chút nào cả, nhưng dựa trên mẫu răng của chúng, người ta cho rằng nó có họ hàng thân thiện với voi. Tôi không nhớ rõ ràng chúng tôi đã nói với nhau những gì, và đã tìm thấy mối quan tâm chung nào trong cuộc thảo luận kỳ lạ về động vật ấy. Tôi chỉ biết rằng, ngay sau đó, tôi đã say sưa tìm kiếm toàn bộ những nội dung về Hyrax và tôi đã tìm thấy hàng trăm bài. Tôi còn tự nguyện phân tích về hành vi của động vật tại Vườn thú Los Angeles, tham gia giảng dạy một chương trình về phong tục học và một chương trình khác về dược lý và phong tục học.

Ký ức của tôi về buổi tiệc ở ngoài vườn là một khoảng thời gian rất tuyệt vời, hứng thú, quyến rũ và tự tin. Tuy nhiên, bác sỹ tâm thần của tôi, người mà mãi sau này mới nói với tôi về buổi tiệc ấy, lại có một cái nhìn khác hoàn toàn. Ông nói, hôm ấy tôi ăn mặc rất khêu gợi, khác hoàn toàn với lối ăn mặc kín đáo của tôi một năm trước đó và tôi đã dùng quá nhiều son phấn. Ông cho rằng hôm ấy tôi có vẻ hơi điên và nói quá nhiều. Ông nói, hôm ấy ông đã tự nhủ, Kay có vẻ như bị điên rồi, Trong lúc đó, trái lại, tôi lại nghĩ mình đã có một buổi tối thật tuyệt vời.

Đầu óc tôi khởi đầu rối lên, do các ý tưởng dồn đến quá nhanh, tới mức nó luôn hòa lẫn với nhau ở mọi khía cạnh. Giống như có một vụ đâm nhau giữa các nơron thần kinh trên xa lộ trong óc tôi vậy. Tôi càng cố phanh bớt tư duy của mình lại thì tôi lại càng thấy không thể. Sự phấn khích trong tôi cũng khởi đầu lao nhanh, cho dù vẫn có một sợi chỉ lô gích nào đó điều khiển những việc tôi đang làm. Ví dụ, một hôm tôi đột nhiên nổi hứng với việc sao chụp tài liệu. Tôi đã sao chụp tới 30-40 bản bài thơ của Edna St. Vincent Millay, một bài báo về tôn giáo và tâm lý đăng trên Tạp chí Tâm thần học Mỹ và một bài báo khác nhan đề “Vì sao tôi không dự hội thảo về nghiên cứu thông qua một ca cụ thể” của một nhà tâm lý học nổi tiếng, người đã nói rõ nguyên nhân những cuộc hội thảo vòng vo và tổ chức kém cỏi chỉ làm mất thời gian. Đột nhiên, tôi cảm thấy cả ba nội dung này rất có ý nghĩa và đáng để nhân viên trong khoa của tôi tham khảo. Thế là tôi chuyển chúng cho toàn bộ mọi người.

Điều tôi lo ngại lúc này không phải là tôi đã làm một công việc điên khùng như vậy, mà là tôi có những dấu hiệu và cảm nghĩ giống như những ngày đầu của bệnh hưng – trầm cảm. Những cuộc hội thảo bàn tròn trong khoa quả là rất lãng phí thời gian. Tuy nhiên, ông chủ nhiệm khoa không đánh giá mắc những gì tôi muốn nêu ra cho mọi người (và lại càng không thích việc tôi phân phát bài báo ấy cho toàn bộ nhân viên trong khoa). Bài thơ “Phục hồi” của Millay thì tôi đã đọc từ thời thiếu nữ, nhưng khi tâm trạng của tôi khởi đầu say mê và trí nhớ của tôi khởi đầu lao ngày càng nhanh hơn, tôi bỗng nhớ đến bài thơ ấy và ngay nhanh chóng đi tìm nó. Mặc dù tôi chỉ mới khởi đầu tiến trình điện, nhưng bài thơ ấy đã nói lên toàn thể chu kỳ mà tôi sẽ phải trải qua. Bài thơ khởi đầu bằng sự nhận ra thông thường về toàn cầu (“Tất cả những gì có thể thấy từ nơi tôi đứng/ Là ba dãy núi cao và một cánh rừng”). Rồi bài thơ xuyên qua trạng thái mê say và hư ảo, đến vô vọng và cuối cùng lại trở về với toàn cầu bình thường, nhưng với khả năng nhận ra cao hơn. Millay viết bài thơ này khi 19 tuổi và sau đó bà bị suy sụp tâm thần vài lần và phải vào viện, mặc dù lúc đó tôi chưa biết cụ thể này. Thật kỳ lạ, hình như tôi biết bài thơ này có ý nghĩa so với tôi và tôi hiểu mọi ý tứ trong bài thơ ấy. Tôi phân phát nó cho các bác sỹ và sinh viên thực tập, như muốn ngầm nói tới chu kỳ loạn thần kinh và điều trọng yếu là khả năng phục hồi sau đó. Các bác sỹ, không hiểu ý tứ sâu xa của việc tôi thúc giục họ đọc bài thơ này, đã hưởng ứng vì toàn bộ mọi người đều phấn khởi khi có thời dịp được giải lao giữa giờ khám bệnh.

Chính trong thời kỳ này, khi tôi ngày càng sốt sắng với công việc, thì hôn phối của tôi khởi đầu tan vỡ. Tôi khởi đầu xa lánh chồng, mà nguyên nhân chỉ vì tôi muốn có con, còn anh thì không – đây là nguyên nhân có thật và trọng yếu nhưng thực tiễn còn phức tạp hơn nhiều. Tôi ngày càng hồi hộp, hay gắt gỏng và luôn bị kích động. Điều ngạc nhiên nhất là đột nhiên tôi muốn chống lại chính những nét dễ thương nhất của chồng, như sự tốt bụng, bình thản, nhiệt tình và tình yêu của anh. Tôi sốt sắng tìm kiếm một cuộc sống mới. Tôi tìm một căn hộ rất hiện đại

Santa Monica, cho dù tôi ghét thiết kế hiện đại. Tôi mua đồ đạc hiện đại của Phần Lan, mặc dù tôi yêu thích những vật dụng kiểu cổ, ấm cúng. Toàn bộ những gì tôi tìm kiếm đều tốt, hiện đại, nhiều khía cạnh, và thật kỳ lạ, tôi cho rằng chúng có thể làm dịu và không xâm phạm đến đầu óc ngày càng lộn xộn và rối bời của tôi. Tuy nhiên, tối thiểu thì tôi cũng có một cái nhìn ngoạn mục, nhưng vô cùng tốn kém. Tiêu xài nhiều, mặc dù trong túi không có tiền như cách nói chính thức của chẩn đoán là “say sưa mua sắm một cách không kiềm chế được” chính là dấu hiệu kinh điển của bệnh điên.

Khi rơi vào trạng thái phấn khích cao độ, tôi không hề lo ngại gì về vấn đề tiền nong, dù tôi cố nghĩ tới. Vì vậy, tôi đã không nghĩ tới nó nữa. Tôi tin rằng tiền sẽ có, từ một nguồn nào đó và Chúa sẽ chu cấp cho tôi. Những tấm thẻ tín dụng thật thảm hại. Séc cá nhân còn tệ hại hơn. Thật xấu số cho những người điên khi chứng điên lại là sự kéo dài tự nhiên của tổn hại kinh tế. Một khi đã có thẻ tín dụng và tài khoản trong ngân hàng thì việc có tiền không phải là quá khó. Vì vậy, tôi đã mua tới 12 bộ quần áo phòng chống rắn cắn, tới ý nghĩ rằng việc này là cấp thiết và trọng yếu. Tôi mua đá quý, mua những vật dụng trong nhà trang nhã nhưng không thiết yếu, mua ba chiếc đồng hồ mà chiếc nọ mua cách chiếc kia không đầy một giờ đồng hồ (Loại Rolex chứ không phải Timex, mặt bọt sâm banh chứ không phải một khác) và những bộ quần áo hoàn toàn không thích phù hợp với tôi. Trong một cơn nghiện sắm sửa ở Luân Đôn, tôi đã chi tới vài trăm bảng Anh chỉ để mua những cuốn sách có tiêu đề và bìa sách mà tôi thấy ưa nhìn. Này là những cuốn sách về lịch sử tự nhiên của chuột chũi và khoảng hai chục cuốn sách khác nhau về chim cánh cụt, vì tôi nghĩ rằng sẽ là tuyệt vời biết bao nếu chim cánh cụt có một vùng lãnh thổ riêng. Một lần tôi đánh cắp chiếc áo choàng trong cửa tiệm, chỉ bởi vì tôi không thể chịu đựng thêm một phút nào nữa khi nhìn thấy đôi chân đẹp của người phụ nữ xếp hàng trước mình, hay đơn giản chỉ vì tôi nghĩ đến chuyện trộm cắp. Tôi không nhớ nữa. Tôi hoàn toàn bị lú lẫn. Tôi nghĩ tôi đã tiêu xài hơn ba chục nghìn đôla trong hai cơn điên mà chỉ có Chúa mới biết tôi đã tiêu pha hết bao nhiêu nữa trong những lần điên nhẹ mà vẫn thường xảy ra với tôi.

Nhưng rồi khi dùng thuốc Lithi và trở lại với cuộc sống thực, bạn sẽ thấy thẻ tín dụng của các bạn đã bị tổn hại và sự xấu hổ của các bạn lên đến tột cùng. Chứng điện không phải là một sự xa hoa mà người ta có thể đơn giản thỏa mãn. Này là một chứng bệnh tàn phá. Không chỉ thế, người ta còn phải mua thuốc, thử máu và điều trị tâm lý. Những khoản chi này tối thiểu còn được giảm thuế một phần. Còn những khoản chi khi bị điện không nằm trong diện được miễn giảm thuế của Đơn vị Thuế vụ cho các khoản ngân sách trị bệnh hay thua lỗ trong làm ăn. Vì vậy, sau trận điên, khi mà bạn đã suy sụp, thì bạn lại càng có thêm nguyên nhân để vô vọng.

Cho dù đã nhận bằng tiến sỹ kinh tế của Trường Đại học Harvard, nhưng anh tôi không hề được chuẩn bị để khắc phục rắc rối tài chính bày ngổn ngang trên sàn nhà trước mặt anh. Này là một đống hoá đơn đòi tiền của trung tâm tư vấn du học dịch vụ thẻ tín dụng, hàng lô giấy báo màu hồng của ngân hàng thông báo tôi đã chi quá số vốn có trong tài khoản và đủ loại giấy đòi nợ lần thứ hai và lần thứ ba của các cửa tiệm mà tôi đã lượn qua sắm sửa gần đây. Đáng ngại hơn nữa là một đống thư, với những lời lẽ đầy hăm dọa của các trung tâm tư vấn du học chuyên đòi nợ. Sự lộn xộn còn thấy rõ ngay khi bước chân vào nhà, với một đống ngổn ngang những tủ điện tử mà chỉ vài tuần trước bộ óc điện rồ của tôi đã coi chúng là thích hợp. Ngay sau thời điểm đã dùng thuốc và bị vùi dập đến thê lương, tôi lại bị ám ảnh trước việc phải sàng lọc và khắc phục một lô hậu quả tiêu pha thiếu trách nhiệm về tài chính của mình. Nó giống như tôi đang khảo cổ lại những kỷ nguyên trước đó của tâm hồn mình vậy. Ví dụ có một hoá đơn của nhà sản xuất thú nhồi ở Plains, bang Virginia, đòi tiền một con cáo nhồi, mà tôi nghĩ là tôi rất cần. Tôi yêu động vật trong suốt cuộc sống mình và đã có thời điểm tôi muốn trở thành bác sỹ thú y. Thế thì vì sao tôi lại có thể mua một động vật chết? Tôi rất yêu quý cáo và ngưỡng mộ chúng. Tôi nghĩ chúng nhanh nhẹn, thông minh và đẹp. Thế thì vì sao tôi lại có thể góp phần trực tiếp vào việc giết một con cáo để lấy da nhồi? Tôi hoảng sợ trước bản chất kinh tởm của vụ đặt mua này, kinh tởm với chính mình và tôi không thể hình dung được tôi sẽ phải làm gì với nó, một khi người ta mang hàng tới.

Với ý định thay đổi sự Note của mình, tôi khởi đầu thọc tay vào đống giấy tờ liên quan đến thẻ tín dụng. Ngay gần trên cùng là hoá đơn đòi tiền của cửa tiệm dược phẩm, nơi tôi đã mua những bộ quần áo chống rắn cắn. Viên dược sỹ, người vừa bán Lithi cho tôi theo đơn thuốc trước nhất, đã mỉm cười ra vẻ hiểu biết khi tôi lại rung chuông đề xuất anh ta bán cho tôi những bộ quần áo chống rắn cắn, cùng một lộ những thứ vớ vẩn, vô dụng và kỳ lạ khác nữa. Tôi biết anh ta đang nghĩ gì, và như một sự rộng lượng của tâm trạng hứng thú, tôi đã đánh giá mắc khiếu khôi hài của anh ta. Tuy nhiên, khác với tôi, anh ta…hình như không hiểu một cách đầy đủ mối nguy hiểm đến tính mạng mà những con rắn có thể gây ra ở thung lũng San Fernando. Chúa đã chọn tôi và hình như chỉ một mình tôi, để nhắc nhở với toàn cầu về sự lan tràn của những con rắn chết người ở miền đất hứa. Tôi đã nghĩ đại loại thế khi đi lang thang trong ảo giác. Tôi nghĩ, với việc mua toàn thể số bộ quần áo chống rắn cắn mà cửa tiệm dược có sẵn, tôi đã làm toàn bộ những gì có thể để bảo vệ mình và những người mà tôi quan tâm. Trong lúc lượn khắp cửa tiệm dược, tôi còn nảy ra ý định nhắc nhở mối nguy hiểm này qua tờ Thời báo Los Angeles nữa. Tuy nhiên, khi đó tôi đã quá điên, tới mức không thể kết nối những ý tưởng của mình lại để hoàn thiện plan được nữa.

Anh tôi hình như đọc được tư duy của tôi, bước vào phòng với một chai sâm banh và những chiếc cốc trên khay. Anh nói, anh nghĩ chúng tôi cần phải uống sâm banh, vì toàn bộ những việc này sẽ “không thích thú lắm”. Anh tôi không phải là người cường điệu, nhưng cũng chẳng phải là người hay vò đầu bứt tai, hoặc nghiến răng kèn kẹt. Thay vào đó, anh là một người công bình, thực tiễn, rộng lượng, và vì là một người tự tin anh luôn có xu thế khuyến khích niềm tin người khác. Với toàn bộ những phẩm chất ấy, anh rất giống mẹ tôi. Trong thời gian bố mẹ tôi ly thân, và sau này là ly hôn, anh đã giang cánh tay ra chở che tôi, bảo vệ tôi khỏi những nỗi đau của cuộc sống và tâm trạng không ổn định của tôi, trong khả năng mà anh có thể. Đôi cánh tay của anh luôn là điểm tựa tin cậy của tôi. Kể từ ngày tôi khởi đầu vào trường đại học, trong suốt những năm học đại học, những ngày làm giáo viên đại học, và trên thực tiễn là đến tận ngày nay, cũng như mai sau, mỗi khi tôi cần khuây khoả hay làm dịu cơn đau, hoặc đơn giản chỉ vì muốn đi chơi, tôi luôn thu được một tấm vé máy cất cánh trong thùng thư, với một lời gợi ý tôi nên đến chỗ anh ở nơi nào đó, như Boston, New York, Colorado hay San Francisco. Anh thường ở một trong những nơi này để trò chuyện, tư vấn cho tôi hay nghỉ ngơi vài ngày. Tôi gặp anh ở sảnh của một khách sạn nào đó, hoặc tại một quán ăn lịch sự. Tôi sung sướng mỗi khi thấy anh cao, đẹp trai và ăn mặc lịch sự – bước nhanh qua căn phòng. Cho dù tâm trạng của tôi có thế nào, hay tôi đang gặp phải vấn đề gì chăng nữa, anh vẫn tạo được cho tôi cảm nghĩ rằng anh rất vui khi gặp tôi. Mỗi lần tôi ra nước ngoài sống – trước nhất là tới Xcốtlen với tư cách sinh viên đại học, sau đó tới Anh với tư cách sinh viên sau đại học và hai lần tới Luân Đôn trong các dịp nghỉ phối hợp phân tích của Trường Đại học California – tôi đều biết rằng anh sẽ tới chỉ sau một vài tuần, để xem tôi ăn ở ra sao và tôi tới đó làm gì, rồi anh mang tôi đi ăn tối và gợi ý cùng tới các cửa tiệm Hatchards, Dillons hay hiệu sách nào đó. Sau lần tôi bị điện năng trước nhất, đôi cánh tay của anh càng ôm chặt lấy tôi hơn. Anh đã cho tôi thấy một cách rất rõ ràng rằng nếu tôi cần tới anh, thì cho dù anh đang ở đâu, anh cũng sẽ lên chuyển máy cất cánh ngay sau đó để cùng tôi về nhà.

Lần này, anh cũng không mang ra bất kì một lời phán xét nào về những khoản sắm sửa hoàn toàn vô lý của tôi, hoặc nếu có thì anh cũng không nói ra với tôi. Nhờ khoản vay cá nhân từ liên đoàn tín dụng của Ngân hàng toàn cầu, nơi anh làm việc với tư cách một nhà kinh tế, chúng tôi đã có thể viết séc chi trả toàn bộ các khoản nợ đọng. Dần dần, sau nhiều năm, tôi cũng hoàn trả được cho anh khoản vay này. Nói một cách đúng đắn hơn là tôi đã trả lại được khoản tiền mà tôi nợ anh, nhưng tôi không khi nào có thể trả được cho anh tình yêu, sự tốt bụng và sự thấu hiểu của anh với tôi.

Tôi tiếp tục cuộc sống của mình với nhịp độ đáng sợ. Tôi làm việc triền miên và ngủ rất ít. Khi trở về nhà vào ban tối, thì này lại là nơi làm cho đầu óc tôi thêm rối bời. Sách, mà nhiều quyển trong này là mới mua, vứt tứ tung khắp nơi. Quần áo chất thành từng đống khắp các phòng, cùng những túi gói hàng đã mở vứt tung toé và những túi mua hàng thậm chí vẫn chưa lấy hết đồ ra. Căn hộ của tôi trông giống như không có người ở và đã bị một đàn chuột trấn giữ vậy. Trong phòng còn tồn tại hàng trăm mảnh giấy cắt, một ít ở trên bàn, một ít trong giá bếp và một đống trên sàn nhà. Trong số những mảnh giấy cắt ấy có một bài thơ không mạch lạc và dông dài mà tôi tìm thấy trong tủ lạnh vài tuần sau đó. Khỏi cần phải nói, rõ ràng đây là sản phẩm của hứng sưu tập đã phát triển rất nhanh trong thời gian tôi bị điên. Tôi đã đặt cho bài thơ ấy một tiêu đề, mà nghĩ rằng phải có một ý nghĩa nào đó vào lúc ấy, “Chúa là động vật ăn cỏ”. Có rất nhiều bài thơ và đoạn thơ như vậy và chúng được vứt tung toé khắp nơi. Nhiều tuần sau thời điểm đã dọn sạch căn hộ của mình, thỉnh thoảng tôi vẫn còn bắt gặp những mảnh báo – với những lời chủ thích ở ngoài rìa – được cất ở những nơi rất ít khi tôi nghĩ rằng chúng có thể ở đó.

Sự nhận ra và cảm nhận tiếng động nói chung và âm nhạc nói riêng của tôi bỗng trở nên mãnh liệt. Từng nốt nhạc của kèn co, kèn oboe và đàn cello bỗng trở nên vô cùng sầu thảm. Tôi nghe rành rẽ từng nốt, rõ toàn bộ các nốt, rồi chúng quyện lại với nhau tạo thành những âm hưởng rõ ràng và đẹp đẽ. Tôi có cảm nghĩ như mình đang đứng trước một dàn hợp xướng. Nhưng không lâu sau đó, tôi lại không thể chịu đựng nổi sự mãnh liệt và buồn thảm của nhạc cổ kính. Tôi hồi hộp với nhịp điệu của nhạc cổ kính và bị chìm trong xúc cảm của nó. Tôi vội vàng chuyển sang nghe nhạc rock. Tôi lôi tập album của ban nhạc Rolling Stones ra và mở loa hết cỡ. Tôi đổi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, hết album này đến album khác, để cho tâm trạng hoà đồng với âm nhạc và âm nhạc đồng điệu với tâm hồn. Trong lúc tôi tìm kiếm loại âm nhạc phù phù hợp với mình, thì căn hộ của tôi lại lộn xộn thêm với những đĩa nhạc, băng nhạc và túi album nhạc. Sự lộn xộn trong đầu tôi phản ánh sự lộn xộn trong phòng. Tôi không lĩnh hội được những gì tôi nghe nữa. Tôi khởi đầu rối trí, sợ hãi và mất phương hướng. Tôi không thể nghe bất kì đoạn nhạc nào quá vài ba phút. Hành động của tôi cuồng lên, còn đầu óc tôi thì điên cuồng hơn thế.

Bóng đen bắt nguồn từ từ len lỏi vào đầu tôi và không lâu sau đó tôi mất hết khả năng kiểm tra. Tôi không thể đuổi kịp những tư duy của chính mình. Từng câu, từng câu cứ cất cánh quanh đầu tôi, rồi chúng vỡ ra thành từng mệnh đề, rồi lại vỡ ra thành từng từ và cuối cùng chỉ sót lại ngữ âm. Một buổi chiều muộn, tôi đứng giữa phòng nhìn ra ngoài, ngắm ánh hoàng hôn đỏ rực như máu trải khắp đường chân trời của Thái Bình Dương. Đột nhiên tôi thấy một cảm nghĩ lạ ở trong mắt tôi. Ngay nhanh chóng, tôi nhìn thấy một cỗ máy li tâm khổng lồ, đen ngòm ở ngay trong đầu mình. Tôi thấy một nhân vật cao; trong bộ áo choàng buổi tối dài sát nền nhà, tiến tới chiếc máy li tâm. Tay bà ta cầm một ống thủy tinh to bằng lọ hoa, chứa đầy máu. Khi nhân vật ấy quay đầu lại, tôi hoảng sợ nhận thấy đó chính là mình và máu bê tha trên áo quần, áo choàng và đôi găng tay dài trắng của tôi. Tôi nhìn thấy nhân vật ấy cảnh giác đặt ống thủy tinh chứa đầy máu vào một trong những khe của máy li tâm, đậy nắp lại lại, rồi bật công tắc ở phía trước máy. Chiếc máy li tâm khởi đầu quay. Sau đó, thật kinh hoàng, hình ảnh mà trước đó nằm trong đầu tôi, nay nhảy hẳn ra ngoài. Người tôi cứng đờ vì sợ hãi. Tiếng quay của máy li tâm và tiếng va đập của ống thủy tinh vào kim loại cứ to dần, to dần và cỗ máy bỗng vỡ tan ra thành hàng nghìn mảnh. Máu tung toé khắp nơi. Máu bắn lên ô cửa sổ, lên tường, lên tranh ảnh và ướt sũng thảm sàn nhà. Tôi nhìn ra ngoài đại dương thấy máu trên ô cửa sổ hoà nhập vào ánh hoàng hôn. Tôi không biết máu kết thúc ở đâu và hoàng hôn bắt nguồn từ đâu. Tôi thét lên với toàn bộ lượng hơi trong phổi. Dù vậy, tôi cũng không thoát được khỏi cảnh máu me và tiếng va đập của cỗ máy đang quay nhanh dần, nhanh dần. Tư duy của tôi không chỉ xáo trộn điên cuồng, mà còn biến thành ảo ảnh kinh khủng, một hình ảnh thật và đáng sợ về cuộc sống và tâm trạng vượt ra ngoài tầm kiểm tra. Tôi hét lên, rồi lại hét lên. Ảo giác tan dần. Tôi gọi điện cho một đồng nghiệp nhờ anh ta trợ giúp. Rồi tôi uống một cốc to rượu uytxki và đợi anh ta đến.

Thật may là trước khi bệnh điện của tôi được công khai rộng rãi, thằng bạn đồng nghiệp này – người mà tôi đã hẹn hò tình ái kể từ khi li thân với chồng, cùng một số người khác biết và thấu hiểu tôi – đã sẵn sàng đồng ý sự phẫn nộ điên khùng và ảo giác của tôi. Anh ép tôi phải uống Lithi, một việc chẳng đơn giản gì so với anh – vì tôi bị kích động đến rồ dại, hoang tưởng và có những hành vi bạo lực – nhưng anh đã xử lý toàn bộ những chuyện ấy rất khéo léo, khoan dung và đầy thấu hiểu. Anh là người tế nhị, nhưng tỏ ra kiên quyết khi nói với tôi rằng tôi đã mắc bệnh rối loạn lưỡng cực và thuyết phục tôi tới bác sỹ tâm thần khám bệnh. Chúng tôi cùng tìm kiếm toàn bộ những nội dung về chứng bệnh này. Chúng tôi đọc toàn bộ những gì có thể và tìm hiểu về cách trị liệu. Lithi mới chỉ được Đơn vị Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cho phép sử dụng trong chữa trị bệnh điện bốn năm trước đó, năm 1970, nhưng chưa thông dụng ở California. Tuy nhiên, qua các nội dung y học, chúng tôi thấy rõ Lithi là loại thuốc duy nhất có thể có hiệu quả so với tôi. Anh kê toa Lithị và các loại thuốc thần kinh khác cho tôi sử dụng trong thời gian ngắn, nguy cấp, đủ để làm dịu cơn điên của tôi, cho tới khi tôi tới bác sỹ tâm thần khám bệnh. Anh lấy sẵn số lượng thuốc tôi phải uống vào mỗi buổi sáng và buổi tối. Anh dành hàng tiếng đồng hồ trò chuyện với gia đình tôi về tình trạng bệnh tật của tôi và bày cho họ cách tốt nhất để khắc phục vấn đề này. Anh đã vài lần lấy máu của tôi để xác minh lượng Lithi và mang ra những phán đoán đầy phấn khích về khả năng phục hồi của tôi. Anh cũng kiên quyết yêu cầu tôi tạm từ chức một thời gian ngắn, nhờ này mà tôi khỏi bị mất việc và khỏi bị mất những đặc ân của phòng khám. Anh cũng sắp đặt người chăm sóc tôi ở nhà trong những khoảng thời gian mà anh không thể ở bên cạnh tôi.

Trong lần điên trước nhất này, tôi cảm thấy bị suy sụp một cách tệ hại và nguy hiểm hơn rất nhiều so với lúc bị trầm cảm nặng. Cảm nhận kinh khủng nhất là những cơn nghiêng ngả, trồi lên rồi sụt xuống tâm thần tôi hoàn toàn bị rối loạn. Trước đó tôi đã bị điên nhẹ nhiều lần, nhưng chưa khi nào có cảm nghĩ hoảng sợ, mà nhẹ nhất là rơi vào trạng thái đê mê, còn tệ nhất là bị rối loạn. Tôi đã hiểu cách thức tự điều chỉnh trong những tình huống ấy. Tôi đã tạo dựng được phương pháp tự kiểm tra, để kiềm chế những trận cười không thích hợp và hạn chế đến mức thấp nhất sự gắt gỏng. Tôi tránh né những tình huống có thể chạm tới, hoặc kích thích hệ thần kinh quá nhạy cảm của mình. Tôi cũng học được cách giả vờ như đang tập trung tư duy về một vấn đề nào đó, khi tâm trí tôi nhảy ra khỏi đầu để đuổi theo những con thỏ ở hàng nghìn hướng khác nhau. Công việc và cuộc sống sự nghiệp của tôi như bị tan chảy. Tuy nhiên, không có ở đâu, cả nền giáo dục, trí tuệ và phẩm cách của tôi lại chuẩn bị cho tôi sẵn sàng ứng phó với bệnh điên.

Mặc dù bệnh điên của tôi phải mất nhiều tuần mới phát bệnh và tôi biết có chuyện gì đó rất không ổn, nhưng có những lúc tôi biết đúng đắn rằng tôi đã bị điên. Ý nghĩ của tôi lướt qua rất nhanh, tới mức chỉ tới giữa chừng là tôi đã không nhớ phần đầu của nó là gì nữa. Từng mảng ý tưởng, hình ảnh và câu văn cứ đuổi nhau trong đầu tôi, như những con hổ trong chuyện kể thiếu nhi vậy. Cuối cùng, giống như những con hổ ấy, chúng tan chảy thành những vũng nước vô nghĩa. Toàn bộ những gì đã từng thân thuộc với tôi nay không còn thân thuộc nữa. Tôi rất muốn kìm hãm tình trạng này, nhưng không thể. Không có bất kì cách nào có thể có ích – cả việc chạy từ đầu này tới đầu kia bãi đỗ xe trong nhiều giờ hay bơi qua nhiều dặm. Tôi làm mọi cách nhưng hình như đều không chạm được tới nguồn sinh lực trong tôi. Quan hệ tình dục bỗng trở nên quá mãnh liệt, tới mức không còn thấy sung sướng nữa và vào lúc ấy, tôi có cảm nghĩ như đầu óc tôi bị bao bọc bởi những vệt tối đáng sợ. Ảo giác của tôi chỉ toàn thấy những chết chóc đớn đau và từ từ của mọi cây xanh trên toàn cầu – từ dây leo này đến dây leo khác, từ thân cây này đến thân cây khác, từ chiếc lá này đến chiếc lá khác, cứ lần lượt chết đi, mà tôi không làm thế nào cứu chúng được. Những tiếng thét của chúng thật chói tai. Toàn bộ những hình ảnh ấy dần chuyển thành màu đen rồi tan biến.

Đã có thời điểm tôi quyết định nếu đầu óc của tôi mà nhờ nó tôi kiếm sống và đã từng ổn định trong nhiều năm – không chấm hết hiện tượng truy đuổi nhau trong đầu và tôi không thể trở lại làm việc bình thường, thì tôi sẽ tự tử bằng cách nhảy từ nóc toà nhà 12 tầng gần đó. Tôi đã đề ra thời hạn chót 24 giờ. Nhưng tất nhiên là tôi không còn cảm nghĩ gì về thời gian nữa và hàng triệu tư duy khác – cả cao thượng lẫn bệnh hoạn – vẫn hòa lẫn nhau và đuổi nhau trong đầu tôi. Những ngày kinh khủng và kinh hoàng. Cuối cùng Thorazine, Lithi, Valium và các loại thuốc an thần đã có tác dụng. Tôi cảm thấy tâm trạng của tôi khởi đầu ghìm cương, chững dần và cuối cùng dừng lại. Tuy nhiên phải rất lâu sau tôi mới thừa nhận những tư duy của mình, còn cho đến khi tôi có thể tin vào tư duy của mình thì còn lâu hơn thế nhiều.

Lần trước nhất tôi gặp người sau này trở thành bác sỹ tâm thần của tôi là khi ông làm bác sỹ trưởng của Viện Tính năng thần kinh UCLA. Ông cao, ưa nhìn và có ý kiến rất mạnh mẽ. Ông rắn rỏi, nhưng khôi hài và có nụ cười khá dễ mến, mà có thể làm dịu đi những tình huống khó khăn. Ông là người kiên quyết, rất phép tắc, biết mình đang làm gì và rất Note tới những biện pháp để thực hiện công việc đó. Ông yêu nghề bác sỹ và là một giáo viên tuyệt vời. Trong năm tôi làm thực tập sinh điều trị tâm lý trước khi nhận bằng tiến sĩ, ông được giao nhiệm vụ giám sát công tác điều trị của tôi–khoa người bệnh người lớn. Ông là người có lý trí, mang ra những chẩn đoán rất nghiêm khắc, nhưng đầy tình thương, ở một khoa mà lòng tự trọng của con người đã trở nên quá mong manh và đầy rẫy những tranh chấp giữa nội tâm và nhục dục. Trong lúc ông ủng hộ việc điều trị sớm và bằng biện pháp y học kiên quyết với những người bệnh rối loạn tâm thần, ông vẫn rất tin vào tầm trọng yếu của liệu pháp tâm lý để chữa lành và tạo ra những thay đổi vững chắc ở người bệnh. Tình thương người bệnh, cùng với sự hiểu biết sâu rộng về y học, tâm thần học và bản chất con người của ông đã để lại những ấn tượng tốt trong tôi. Khi tôi bị điên nặng, ngay sau thời điểm trở thành giáo viên của UCLA, ông là người duy nhất tôi tin tưởng % cuộc sống của mình. Bằng trực giác của mình, tôi hiểu rằng tôi không thể nói nhiều hơn, tư duy nhanh hơn và hành động nhanh hơn ông. Giữa một mớ vô cùng lộn xộn trong đầu, này là quyết định tỉnh táo và rất có ý nghĩa của tôi.

Khi lần trước nhất tôi gọi điện xin hẹn khám, tôi không chỉ rất yếu, mà còn hoảng sợ và rất bối rối. Tôi chưa khi nào tới bác sỹ tâm thần hay nhà tâm lý nào để khám bệnh. Tuy nhiên, tôi không còn sự lựa chọn nào khác. Tôi đã hoàn toàn mất trí. Nếu không thu được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, tôi rất có thể bị mất việc, mất đi cuộc hôn phối mong manh và thậm chí cả cuộc sống mình nữa. Tôi lái xe từ phòng làm việc ở UCLA tới phòng khám của ông ở thung lũng San Fernando. Này là một buổi chiều tà ở Nam California, khoảng thời gian thường là dễ thương trong ngày, nhưng tôi – lần trước nhất trong đời – rùng mình vì sợ. Tôi sợ những gì ông sẽ nói với tôi và sợ cả những điều ông không thể nói ra với tôi. Này là một trong những lần tôi không thể tư duy hoặc cười để thoát ra khỏi hoàn cảnh mà tôi đã lâm vào và cũng không biết liệu trên đời này có cái gì đó có thể làm cho tôi khá hơn được không.

Tôi ấn nút cầu thang máy và đi dọc hành lang tới phòng đợi. Hai người bệnh khác cũng đang ngồi chờ bác sỹ. Họ càng làm cho tôi cảm thấy nhục nhã và xấu hổ với vị trí người bệnh hẹn khám của mình. Tôi cũng khởi đầu chán ngán toàn bộ những thời dịp xây dựng uy danh, mà vì nó người ta phải hy sinh cả cuộc sống bình thường của mình. Nếu tôi không ở trong tình trạng mong manh như khi ấy, toàn bộ những điều này có thể không trở nên nghiêm trọng đến thế. Tuy nhiên khi ấy tôi bối rối, hoảng sợ và toàn bộ những nhận thức về bản thân mình đột nhiên bị xáo trộn. Sự tự tin, vốn đã thấm sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống tôi từ rất lâu, đột nhiên tan biến.

Tôi nhìn thấy một dãy nút bấm, cái thì sáng, cái thì không sáng trên hàng rào đối mặt của phòng đợi. Rõ ràng là tôi phải nhấp vào một trong những nút đó, để bác sỹ tâm thần của tôi biết rằng tôi đã tới. Tôi có cảm nghĩ mình giống như một con chuột bạch khổng lồ, ấn bàn chân đầy móng vuốt vào chiếc đòn bẩy để lấy viên thức ăn. Này là hệ thống tín hiệu tuy thực dụng, nhưng lại làm mất danh giá của con người đến kỳ lạ. Tôi bị chìm trong tư duy rằng có vẻ tôi không thích hợp lắm với vị trí người bệnh bên bàn khám bệnh.

Bác sỹ tâm thần của tôi mở cửa. Ông nhìn tôi rất lâu, bảo tôi ngồi xuống và an ủi tôi. Tôi hoàn toàn không nhớ ông đã nói gì – tôi tin rằng này là những ngôn từ mà bình thường người ta phải nói thôi nhưng tôi có cảm nghĩ rằng một tia sáng nhỏ, rất nhỏ và rất chậm rãi, len dần vào đầu óc đen tối và hoảng sợ của tôi. Tôi hầu hết hoàn toàn không nhớ mình đã nói gì trong lần khám trước nhất này, nhưng tôi biết đó chỉ là những câu dông dài, yếu ớt và lộn xộn. Ông ngồi đó, hình như rất chú tâm lắng nghe, cái bóng cao 1,9 mét của ông trải dài từ ghế xuống sàn nhà, đôi chân hết gác lên nhau lại bỏ ra và những ngón tay dài của ông cứ gõ mãi vào nhau. Sau đó ông khởi đầu hỏi.

Tôi ngủ bao nhiêu giờ mỗi ngày? Tôi có gặp khó khăn gì trong việc tập trung tâm trí không? Tôi có nói nhiều hơn bình thường không? Tôi có nói nhanh hơn bình thường không? Có ai đề xuất tôi nói từ từ lại không, hay họ có hiểu tôi nói gì không? Tôi có cảm nghĩ là buộc phải nói liên tục không? Tôi có cảm thấy có nhiều sinh lực hơn bình thường không? Những người khác có nói họ phải vất vả mới theo kịp tôi không? Tôi có tham gia nhiều hoạt động hơn bình thường không và có thực hiện nhiều dự án hơn không? Có phải những tư duy của tôi diễn ra quá nhanh, tới mức tôi khó theo kịp được chúng không? Có phải tôi ít nghỉ ngơi hơn và dễ xúc động hơn không? Tôi có quan hệ tình dục nhiều hơn không? Tôi có tiêu tiền nhiều hơn không? Tôi có hành động hấp tấp không? Tôi có dễ gắt gỏng và giận dữ hơn bình thường không? Tôi có cảm nghĩ rằng mình có tài năng hay uy lực đặc biệt không? Tôi có nhìn thấy hay nghe thấy hình ảnh và tiếng động nào mà những người khác không nhìn thấy hay nghe thấy không? Tôi có cảm nghĩ kỳ lạ nào không? Trước đó đã khi nào tôi gặp phải triệu chứng này chưa? Có ai trong nhà tôi có triệu chứng giống như tôi không?… 

Tôi nhận thấy rằng tôi đang trải qua một kỳ sát hạch rất cụ thể về bệnh tâm thần. Những câu hối này là khá thân thuộc. Tôi đã hỏi những người khác những thắc mắc ấy hàng trăm lần rồi. Tuy nhiên, tôi cảm thấy mất tự tin khi phải trả lời những thắc mắc đó. Tôi mất tự tin vì không biết toàn bộ những chuyện này rồi sẽ đi tới đâu và mất tự tin khi nhận thấy rằng tôi bối rối biết bao khi trở thành một người bệnh. Tội trả lời “có” cho hầu như các thắc mắc của ông, kể cả hàng loạt lời giải thích dài dằng dặc về sự trầm cảm nữa. Rồi tôi có cảm nghĩ rằng tôi đang thu được sự tôn trọng mới cả về nghề nghiệp lẫn tâm thần. 

Dần dần, kinh nghiệm của ông với tư cách một bác sỹ và sự tự tin của ông với tư cách một con người, khởi đầu có hiệu lực, rất giống với thúc đẩy của thuốc làm địu dần cơn điên. Ông nói rất rõ ràng rằng ông nghĩ tôi đã bị hưng-trầm cảm và tôi cần phải uống thuốc Lithi, có thể vô thời hạn. Điều đó làm tôi vô cùng hoảng sợ – khi đó tôi biết thấp hơn hiện giờ rất nhiều về chứng bệnh này, cũng như những dự đoán về tiến trình phát triển của nó — nhưng nó cũng đồng thời làm tôi địu đi, vì tôi đã được nghe lời chẩn đoán mà trong thâm tâm tôi biết là đúng. Dù vậy tôi vẫn tìm cách cưỡng lại lời phán xét mà ông vừa giáng xuống đầu tôi, nhưng không thành công. Ông lắng nghe một cách nhẫn nại. Ông lắng nghe toàn bộ những lời giải thích khác về sự suy sụp trí não của tôi – sức ép của cuộc hôn phối hiếp dâm, sức ép của việc trở thành giáo viên tâm thần ở trường đại học và sức ép của công việc quá nhiều — nhưng ông vẫn giữ nguyên chẩn đoán của mình và gợi ý rằng tôi cần điều trị bằng thuốc. Tôi cay đắng cưỡng lại, nhưng lại nhẹ người đi rất nhiều. Tôi vô cùng kính trọng ông vì những tư duy rất rõ ràng của ông, vì sự quan tâm mà ông dành cho tôi và vì ông không ngần ngại nói ra một tin xấu. 

Trong rất nhiều năm sau, tôi thường xuyên tới ông khám bệnh, tối thiểu mỗi tuần một lần, trừ khi tôi sống ở Anh. Những khi tôi thấy quá trầm cảm hoặc muốn tự tử, tôi tới chỗ ông thường xuyên hơn. Ông đã hàng nghìn lần giữ lại cuộc sống của tôi. Ông theo dõi tôi vượt qua những cơn điên rồi suy sụp, những lúc tuyệt vời và tình yêu cháy bỏng, những lúc bị vỡ mộng và những lúc vinh quang, những khi bệnh tái phát và lúc tôi mưu toan tự tử, khi người đàn ông mà tôi yêu say đắm từ trần và những khi tôi ưng ý hay bực dọc với công việc chuyên môn của mình. Tóm lại, ông theo dõi tôi vượt qua hầu hết toàn bộ mọi khía cạnh của cuộc sống tâm hồn _ và tâm lý của tôi, kể từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc. Ông rất rắn rỏi, nhưng cũng rất tốt bụng. Ông hiểu hơn ai hết về những mất mát to lớn – cả về sinh lực, sự sôi nổi và tính mới mẻ – của tôi khi uống thuốc, nhưng ông cũng chưa khi nào nhân nhượng trong nhận xét về những tổn thất, thiệt hại và sự nguy hiểm đến tính mạng, mà chứng bệnh của tôi có thể mang lại. Ông đơn giản vượt qua sự mơ hồ, không ngại những rắc rối và có khả năng mang ra quyết định đúng giữa những điều rối rắm. Ông điều trị cho tôi với sự tôn trọng, với khả năng chuyên môn rất cao, với khiếu khôi hài và niềm tin vững chắc rằng tôi sẽ hồi phục, tôi sẽ tranh đấu với bệnh tật và tôi có thể làm thay đổi tình hình. 

Mặc dù tôi tìm đến ông để trị bệnh, nhưng ông đã dạy cho tôi nhiều điều, ví dụ như thúc đẩy của bộ óc tới tâm thần và tâm hồn tới bộ óc ở những người bệnh của tôi. Tính khí, tâm trạng và bệnh tật của tôi rõ ràng là tác động rất nhiều tới mối quan hệ của tôi với những người khác, cũng như tới công việc của tôi. Tuy nhiên, chính tâm trạng của tôi lại cũng chịu ràng buộc rất lớn của những mối quan hệ ấy và của công việc. Thách thức ở đây là hiểu được sự phức tạp của những mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau này, xác nhận được vai trò rõ ràng của Lithi, của ý chí và sự tỉnh táo để vượt qua bệnh tật, tiến tới một cuộc sống có ý nghĩa. Này là nhiệm vụ và cũng là món quà của liệu pháp tâm lý. 

Trong khoảng thời gian này, tôi không thể hình dung được khả năng trở lại với cuộc sống bình thường, nếu không uống Lithi và không được điều trị bằng liệu pháp tâm lý. Lithi giúp tôi tránh được những cơn cao hứng đầy quyến rũ, nhưng nguy hiểm, làm dịu những cơn trầm cảm, giúp tôi thoát khỏi rắc rối tư duy lộn xộn của mình, làm cho tôi bình tĩnh trở lại, giúp tôi thoát khỏi tình huống của mình, giúp tôi khỏi bị mất việc và mất những mối quan hệ của mình, tránh cho tôi khỏi phải vào viện, giữ cho tôi tiếp tục sống và tạo điều kiện cho liệu pháp tâm lý phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, chính liệu pháp tâm lý mới chữa lành bệnh cho tôi. Nó giúp tôi nhận thức được sự lộn xộn, kiềm chế những tư duy và cảm nghĩ kinh khủng, khôi phục lại khả năng kiểm tra và niềm kỳ vọng và có vẻ cả khả năng rút ra được bài học từ toàn bộ những điều đó nữa. Thuốc không và không thể mang người ta trở lại với thực tiễn. Thuốc chỉ kiềm chế người ta khỏi những cơn liều lĩnh và mất phương hướng và rút ngắn cơn điên mà thôi. Liệu pháp tâm lý là nơi trú ẩn, là chiến trường, nơi tôi đã từng bị tâm thần, bị rối loạn thần kinh tính năng, bị kích động, và vô vọng đến mức không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, đó cũng chính là nơi tôi tin rằng, hay đã học được cách tin rằng, tới một ngày nào đó, tôi có thể thắng lợi toàn bộ những chuyện đó.

Không có loại thuốc nào chữa được bệnh không muốn uống thuốc, không có một liệu pháp tâm lý nào, mà riêng nó có thể ngăn tôi khỏi bị điện và trầm cảm. Tôi cần cả hai. Thật kỳ quặc khi phải gắn cả cuộc sống với thuốc, mà uống thuốc trở thành một thói quen suốt cả cuộc sống, và gắn với cách trị liệu mới mẻ, kỳ lạ, nhưng cuối cùng lại rất có hiệu quả, gọi là liệu pháp tâm lý.

Tuy nhiên, không phải tôi đã sớm nhận thấy rằng tôi phải gắn cả cuộc sống với thuốc. Tôi đã phải trả giá đắt cho việc nhận xét không đúng sự thiết yếu phải uống Lithi.

Nhớ Sao Thổ

Mỗi người điên theo một cách khác nhau. Có vẻ, không có gì đáng ngạc nhiên, khi tôi, con gái của nhà khí tượng, bỗng tự thấy mình chìm trong ảo ảnh đầy thú vị của đêm hè, lướt đi, cất cánh đi và thỉnh thoảng cũng trong tránh khi xuyên qua những đám mây dày và lướt trên chín tầng mây, vượt qua những người nổi tiếng và xuyên qua những cánh đồng băng tuyết trong suốt. Ngay cả đến hiện giờ, trong con mắt mới mẻ ở đầu mình, tôi vẫn thấy thứ ánh sáng như vỡ ra và dịch chuyển, những sắc màu không ổn định, nhưng mê mẩn lòng người, tạo thành những vòng tròn rộng hàng dặm. Và thật khó có thể tưởng tượng được, tôi đã thấy những hành tinh nhợt nhạt trong vòng tròn bao quanh người nổi tiếng ấy. Tôi còn nhớ là tôi đã hát bài “Hãy đưa tôi bay lên Mặt trăng”, khi tôi lướt qua vòng tròn đó của Sao Thổ. Thật kỳ lạ. Tôi đã nhìn thấy và được ngắm nhìn cái chỉ xuất hiện trong giấc mơ hay trong những ước vọng chập chờn.

Cái đó có thực không? Chắc nịch là không.

Không với đúng nghĩa của từ “thực”. Nhưng nó có ở trong tôi không? Chắc nịch là có. Cho tới rất lâu sau thời điểm tâm thần của tôi đã ổn định và thuốc đã có hiệu lực, nó vẫn là một phần trong trí nhớ của tôi và được bao phủ trong sự phiền muộn. Rất lâu sau chuyến du hành ấy của trí óc và tâm hồn, Sao Thổ cùng vòng tròn bằng của nó vẫn luôn mang một vẻ đẹp buồn thảm. Nay mỗi lần nhìn thấy hình ảnh của Sao Thổ, tôi lại thấy vô cùng buồn bã, buồn vì nó ở quá xa và không làm thế nào nắm bắt được. Xúc cảm mạnh mẽ, cảnh đẹp thần tiên và niềm tin tuyệt đối rằng chuyến cất cánh trong tâm hồn ấy là có thực đã làm cho tôi, khi tôi đã khá hơn, khó có thể tin được rằng bệnh tật là cái cần phải từ bỏ. Mặc dù tôi là một bác sỹ điều trị, một nhà khoa học và cho dù tôi đã đọc nhiều công trình phân tích và biết rõ những hậu quả nguy hiểm không thể tránh khỏi nếu không uống Lithi, nhưng tôi vẫn ngần ngại uống thuốc theo đúng đơn của bác sỹ, cho tới mãi nhiều năm sau lần khám bệnh trước nhất. Vì sao tôi lại không sẵn sàng từ giã bệnh tật? Vì sao tôi lại phải trải qua nhiều cơn điên nữa và tiếp sau này là những cơn trầm cảm kéo dài tới mức tôi chỉ muốn tự tử, tôi mới khởi đầu tự giác uống Lithi?

Sự ngần ngại của tôi chắc rằng một phần xuất phát từ việc về cơ bản tôi không coi những gì tôi đang mắc là một chứng bệnh thực sự. Đây là phản ứng thường thấy sau những đợt hưng trầm cảm nhẹ ban đầu. Tâm lý là một phần trọng yếu của cuộc sống. Trong ý niệm của mỗi người, những triệu chứng loạn thần kinh, cả trong tâm trạng hay hành vi, cũng đều có thể được xem là phản ứng tạm thời trước những vấn đề của cuộc sống. Trong trường hợp của tôi, tôi có cảm nghĩ kinh khủng rằng tôi có thể bị mất những người mà tôi đã từng chung sống và những nơi tôi đã từng đến. Thật khó có thể từ bỏ sự hưng phấn của trí tuệ và tâm thần, cho dù sau đó chắc rằng là đến thời kỳ suy sụp mà đã từng suýt cướp đi sinh mạng của tôi.

Gia đình cũng như bè bạn của tôi đều nghĩ rằng tôi sẽ vui mừng nghênh đón cuộc sống “bình thường”, sẽ đánh giá mắc hiệu quả của Lithi và đơn giản quen với sinh lực và những giấc ngủ bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn đã từng lướt trên những người nổi tiếng và vòng tròn của hành tinh, đã từng quen với việc ngủ bốn, năm tiếng đồng hồ mỗi đêm trong lúc nay ngủ tới tám tiếng, và đã từng đứng bên lan can suốt đêm, hết đêm này tới đêm khác, hết tuần này sang tuần khác, nhưng nay không thể, thì bạn sẽ thấy rằng đây thực sự là một sự điều chỉnh ghê gớm. Nó giống như phải làm quen với bộ comple, mặc dù thuận tiện với nhiều người, nhưng lại là một cái gì đó mới mẻ, chật hẹp, ít hữu ích và vô cùng khó chịu với tôi. Khi tôi phàn nàn rằng nay tôi kém sắc sảo hơn, ít năng động hơn và ít mạnh mẽ hơn, thì mọi người lại nói rằng “ồ, nay cô đang giống tất cả chúng tôi”. Này là điều an ủi. Tuy nhiên tôi muốn so sánh tôi với chính mình trước đó, chứ không phải với người khác. Không chỉ có thế, tôi còn tồn tại xu thế so sánh tôi hiện tại với thời điểm tốt nhất trước đó, khi tôi ở trạng thái điện nhẹ. Khi ở trong cái vỏ “bình thường” hiện tại, tôi khác rất xa với khi tôi dễ thương nhất, hữu ích nhất, mạnh mẽ nhất, thoải mái nhất và sôi nổi nhất. Tóm lại tôi đang phải chật vật để theo kịp chính mình.

Và tôi rất nhớ Sao Thổ.

Trận chiến của tôi với Lithi diễn ra không lâu sau thời điểm tôi khởi đầu uống thuốc. Lần trước nhất bác sỹ kê toa Lithi cho tôi là vào mùa thu 1974, nhưng đến đầu mùa xuân 1975, bỏ mặc những lời khuyên của y học, tôi ngừng uống thuốc. Khi cơn điên trước nhất qua đi và tôi khởi đầu hồi phục sau đợt suy sụp kinh khủng tiếp sau cơn điên, hàng nghìn nguyên nhân đã tập hợp lại trong đầu tôi, tạo dựng một phòng tuyến mạnh mẽ chống lại việc tôi uống thuốc. Một số nguyên nhân là tâm lý. Một số khác thì có liên quan đến những tác dụng phụ của thuốc, do lượng Lithi trong máu cao để có thể kiểm tra được bệnh, tối thiểu cũng là trong thời kỳ đầu. (Hồi năm 1974, tiêu chuẩn điều trị khi này là duy trì lượng Lithi trong máu của người bệnh cao hơn đáng kể so với hiện tại. Tôi đã dùng Lithi liều thấp từ nhiều năm nay và hầu như toàn bộ những vấn đề mà tôi gặp phải khi khởi đầu điều trị đã biến mất). Những tác dụng phụ mà tôi gặp phải trong 10 năm trước nhất là rất khó xử lý. Ở một số ít người bệnh, trong đó có tôi, lượng Lithi thiết yếu để điều trị có hiệu lực là rất gần với mức độc hại.

Không có ai nghi ngờ việc Lithi có tác dụng tốt so với tôi – sách giáo khoa đã coi dạng hưng – trầm cảm của tôi là trường hợp điển hình có phản ứng tốt với Lithi. Tôi bị điên nặng và kéo dài, gia đình có tiền sử điện và triệu chứng điện xuất hiện trước trầm cảm, chứ không phải trái lại nhưng thuốc đã tác động rất mạnh đến tâm lý của tôi. Tôi tự thấy mình phải chịu ơn loại thuốc, mà đã từng làm cho tôi bị nôn thốc tháo vài lần mỗi tháng tôi thường phải ngủ trên sàn nhà tắm, với chiếc gối kê đầu và chiếc áo choàng len St. Andrew đắp trên người – mỗi khi sự thay đổi của lượng muối, của cơ chế ăn kiêng, của luyện tập thể thao hay hócmôn làm cho lượng Lithi trong máu tôi trở nên quá cao. Tôi rơi vào tình trạng điên ở rất nhiều nơi và rất xấu hổ khi bị điên ngay giữa nơi công cộng, từ giảng đường, tới quán ăn ăn và Bảo tàng văn nghệ ở Luân Đôn. (Toàn bộ những hiện tượng này đã được cải tổ rất nhiều kể từ khi tôi chuyển sang sử dụng thuốc Lithi chỉ để làm dịu cơn điên từng lần một). Khi bị độc cao, người tôi khởi đầu run lên, mất khả năng điều hòa, lao thẳng vào tường và giọng nói líu lại. Kết quả là đã vài lần tôi bị mang vào phòng khám cấp cứu. Ở đó, người ta truyền tĩnh mạch cho tôi để giải độc. Tuy nhiên, điều làm tôi xấu hổ hơn là hiện tượng này giống như tôi đã sử dụng ma túy trái phép, hoặc đã uống quá nhiều rượu.

Một buổi tối, sau lớp học cưỡi ngựa ở Malibu, mà hôm đó tôi hai lần bị ngã ngựa, trên đường về tôi bị công an kéo ra vệ đường. Họ yêu cầu tôi cho xác minh thần kinh tại chỗ. Tôi không thể bước theo một đường thẳng. Tôi không thể mang đầu ngón tay lên đúng mũi của mình. Tệ hại hơn nữa là tôi không thể chạm được đầu các ngón tay vào đúng đầu ngón tay cái của mình. Có Chúa mới biết cầu mắt của tôi ra sao khi công an soi đèn vào đó xác minh. Khi tôi mang lọ thuốc ra cho công an biết tên và số smartphone của bác sỹ tâm thần của tôi và tán thành tiến hành bất kì cuộc xét nghiệm máu nào mà họ muốn, công an vẫn không tin rằng tôi đã không sử dụng ma túy hay uống rượu quá nhiều.

Không lâu sau sự kiện đó và ít lâu sau thời điểm tôi khởi đầu học trượt tuyết, tôi đã leo tới đỉnh một ngọn núi cao ở bang Utah, mà không nhận thấy rằng độ cao và việc tập luyện quá nhiều có thể làm tăng lượng Lithi trong máu. Tôi hoàn toàn bị mất phương hướng và không biết làm sao mà có thể xuống núi. Thật may là người bạn của tôi biết tôi đang dùng Lithi và chính anh ta cũng là một Chuyên Viên về cách sử dụng loại thuốc này, đã lo ngại khi thấy tôi không theo kịp anh tới vị trí mà chúng tôi đã hẹn trước. Anh tin rằng tôi có thể đã bị độc Lithi và yêu cầu các nhân viên tuần tra lên áp tải tôi xuống. Tôi đã xuống núi an toàn, nhưng ở tư thế nằm ngang, chứ không phải ở tư thế trượt tuyết mà tôi muốn.

Hiện tượng ói mửa và thỉnh thoảng bị độc, tuy làm cho tôi khó chịu và thỉnh thoảng xấu hổ, vẫn ít trọng yếu hơn nhiều so với thúc đẩy của Lithi tới khả năng đọc, lĩnh hội và ghi nhớ những gì đã đọc của tôi. Trong một vài trường hợp, Lithi còn thúc đẩy tới khả năng thị lực của tôi, làm cho tôi thấy hình ảnh bị nhòe đi. Nó cũng làm giảm khả năng tập trung Note và tác động đến trí nhớ của tôi. Đọc, vốn là cốt lõi của trí tuệ và tâm hồn tôi, bỗng vượt ra ngoài tầm với của tôi. Tôi đã từng đọc ba, bốn cuốn sách mỗi tuần, nay bỗng trở nên không thể. Trong hơn một chục năm, tôi không thể đọc một mạch từ đầu đến cuối một tác phẩm văn học hay một cuốn sách nào. Điều này đã làm cho tôi thất vọng và đớn đau, tới mức không thể lường được. Tôi đã từng ném sách vào tường giữa cơn giận dữ điên cuồng và vứt tạp chí y học tung toé khắp phòng làm việc. Tôi có thể đọc những nội dung trên tạp chí tốt hơn sách, vì chúng ngắn hơn. Dù vậy, tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn. Có những dòng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần và ghi chép, trước khi tôi lĩnh hội được ý nghĩa của nó. Ngay cả như vậy, những gì tôi đọc được cũng thường biến khỏi trí nhớ của tôi, giống như tuyết trên đoạn đường ấm vậy. Tôi chuyển sang ren đăng ten, như là một sự thay đổi, và tôi đã ren biết bao chiếc áo gối và màn chống nóng, nhưng vẫn không thành công trong việc lấp khoảng trống thời gian mà trước đó tôi vẫn dành để đọc sách.

Ơn Chúa, tôi vẫn còn hiểu được thơ. Lúc nào tôi cũng yêu thơ và nay tôi lao vào thơ với một niềm thích thú khó tả. Tôi cũng thấy những cuốn sách dành cho trẻ em, ngoài việc ngắn hơn sách dành cho người lớn, còn được in chữ to hơn và dễ cảm nhận hơn. Tôi đọc đi đọc lại những cuốn sách cổ kính của trẻ em – Peter Pen, Mary Poppins, Tấm mạng của Charlotte, Cây việt quất Phần Lan, bộ sách Oz và Bác sỹ Nhí – mà nhiều năm trước đã mở ra trước mắt tôi những toàn cầu không thể nào quên. Nay chúng lại mang đến cho tôi thời dịp thứ hai, sự thích thú và vẻ đẹp kỳ diệu. Trong số những cuốn sách của trẻ em, Gió trong rừng liễu là cuốn sách tôi đọc đi, đọc lại nhiều nhất. Thỉnh thoảng tôi thấy mình như bị chìm trong đó. Tôi nhớ một lần tôi hoàn toàn bị tan nát cõi lòng khi đọc đoạn mô tả Chuột chũi và căn nhà của nó. Tôi khóc và cứ thế khóc không kìm lại được.

Gần đây tôi đã lấy cuốn Gió trong rừng liễu từ trên giá xuống. Cuốn sách này vẫn được gập nguyên ở đó kể từ khi tôi lấy lại được khả năng đọc sách. Tôi cố tìm lại xem cái gì đã làm cho tôi phải mủi lòng đến thế. Chỉ trong khoảng 1 đến 2 phút, tôi đã tìm lại được đoạn mà tôi cần tìm. Chuột chũi, sau một khoảng thời gian dài rời căn nhà của mình trong lòng đất để đi tìm tòi toàn cầu ánh sáng cùng với thằng bạn Chuột, trong một buổi tối mùa đông đã đi qua và đột nhiên “nhớ lại tất cả những mùi vị” trong căn nhà cũ của mình. Khao khát được thăm lại nơi ở cũ, Chuột chũi tìm mọi cách thuyết phục thằng bạn cùng mình quay lại:

“Dừng lại chuột”, chú chuột chũi đáng thương cầu khẩn, trong trái tim tan nát. “Bạn không hiểu nổi đâu! Đó là nhà tôi, nhà cũ của tôi! Tôi vừa ngửi thấy mùi của nó. Nó rất gần đây thôi, rất gần. Tôi phải về thăm nhà. Tôi phải về, tôi phải về! Quay lại đi chuột! Nào, xin bạn hãy quay lại đi!”

Chuột, lúc đầu lo ngại và ngần ngại không muốn mất thời gian cho việc này, cuối cùng cũng tán thành tới thăm nhà chuột chũi. Sau khoảng thời gian nghe bài hát Thánh ca nhân dịp Giáng sinh và nhấm nháp li rượu nóng trước lò sưởi, chuột chũi mới kể rằng anh ta đã nhớ biết bao sự ấm áp và an toàn mà anh ta đã từng có. Anh ta nhớ “tất cả những thứ thân quen đã vô tình trở thành một phần cuộc đời anh”. Đọc đến đây tôi bỗng nhớ một cách đúng đắn, bằng bản năng, điều mà tôi đã cảm thấy khi đọc nó, không lâu sau thời điểm uống Lithi. Tôi nhớ nhà, tôi nhớ tâm hồn mình, tôi nhớ cuộc sống mình với những cuốn sách và “những thứ thân quen”, tôi nhớ toàn cầu của tôi, nơi mọi thứ đều có chỗ của chúng và không gì có thể phá vỡ chúng được. Nhưng nay tôi không còn sự lựa chọn nào khác, buộc phải sống trong toàn cầu rạn nứt, mà tâm trí tôi áp đặt. Tôi ước mong trở lại những ngày mà tôi đã biết trước khi điện và thuốc len lỏi vào mọi khía cạnh của cuộc sống tôi.

Những phép tắc tiếp đón Lithi một cách lịch thiệp vào cuộc sống bạn

1, Dọn sạch tủ thuốc trước khi khách tới ăn tối hoặc khi người yêu mới ở lại qua đêm.

2, Ngày ngày tiếp theo nhớ để Lithi trở lại tủ thuốc.

3, Đừng quá xấu hổ khi bạn không thể phối hợp hoặc chơi tốt môn thể thao mà bạn đã từng đơn giản vượt qua.

4, Học cách cười khi đánh đổ cà phê, khi ký chữ ký thẫn thờ như của người tám mươi tuổi và khi không thể cài cúc áo khoác trong vòng mười phút.

5, Mỉm cười khi mọi người nói đùa rằng họ nghĩ họ “cần phải uống Lithi”.

6, Gật đầu một cách thông minh và tin tưởng khi bác sỹ giải thích cho bạn những lợi thế của Lithi trong việc làm dịu những xáo trộn trong cuộc sống bạn.

7, Kiên trì chờ đợi những xáo trộn ấy qua đi. Phải thật nhẫn nại. Đọc lại chương trình làm việc. Tiếp tục nhẫn nại. Suy ngẫm về sự tương đồng giữa “kiên nhẫn” và “là một bệnh nhân”. (Chơi chữ: Trong tiếng Anh, chữ “patient” vừa là “kiên nhẫn” vừa là “bệnh nhân”- ND).

8, Đừng phiền lòng trước việc bạn không thể đọc nếu không nỗ lực. Hãy triết lý một tí. Ngay cả khi đọc được, bạn vẫn có thể không nhớ hầu như những gì mình đọc kia mà.

9, Hãy quen với việc bạn kém nhiệt tình và hứng thú hơn trước đây đây. Nỗ lực đừng nghĩ tới toàn bộ những đêm phóng túng mà bạn đã từng có. Biết đâu, nếu không có những đêm như vậy, có khi lại tốt.

10, Hãy tìm nén tư duy rằng mình đã từng tốt hơn rất nhiều. Chắc nịch mọi người sẽ thường xuyên nhắc tới điều này là nó có thể làm cho bạn khó chịu, nhưng này là sự thật.

11, Hãy nhận xét đúng vai trò của Lithi. Đừng khi nào nghĩ tới chuyện ngừng uống Lithi.

12, Nếu bạn ngừng uống thuốc và bị điên, bị suy sụp, thì hãy sẵn sàng lắng nghe hai đề tài thân thuộc từ gia đình, đồng bọn và những người đang trị bệnh cho bạn:

– Bạn đang khá hơn rất nhiều. Tôi chỉ không hiểu vì sao lại thế thôi.

– Tôi đã nói với bạn là chuyện này có thể xảy ra.

13, Hãy lại tích trữ thuốc vào tủ thuốc của các bạn.

Cuối cùng các vấn đề tâm lý lại đóng vai trò trọng yếu hơn nhiều so với những tác dụng phụ trong việc tôi không chịu uống Lithi trong một thời gian dài. Đơn giản là tôi không muốn tin rằng tôi cần phải uống thuốc. Tôi đâm nghiện tâm trạng hứng thú cao độ của mình. Tôi bỗng thấy như bị phụ thuộc vào xúc cảm mãnh liệt, trạng thái phởn phơ và sự tự tin, cũng như khả năng truyền xúc cảm và tâm trạng phấn khởi đó sang người khác. Giống như những con bạc sẵn sàng hy sinh mọi thứ cho sự phù du và cảm nghĩ đê mê khi thắng lợi, hay giống như những con nghiện đánh đổi cả gia đình, sự nghiệp và cuộc sống mình lấy sự hứng thú và sinh lực cao trong một thời gian ngắn ngủi, tôi thấy tình trạng điện nhẹ làm cho tôi mê mẩn và rất hữu ích trong việc nâng cao năng suất làm việc. Tôi không thể từ bỏ nó được. Trọng yếu hơn nữa là tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối nhờ thừa hưởng ý chí mạnh mẽ của bố mẹ, nhờ sự ngang bướng của chính mình và nhờ nền giáo dục kiểu quân sự WASP : rằng tôi có khả năng đương đầu bất kì khó khăn nào, mà không cần phải dựa vào những cái nạng, như uống thuốc.

Tôi không phải là người duy nhất có tư duy kiểu này. Khi tôi bị bệnh, chị tôi đã kịch liệt phản đối việc tôi uống Lithi và chị đã tỏ ra ghê sợ khi tôi dùng thuốc. Trong sự trở lại kỳ quặc với nền giáo dục đạo đức khó tính của Thanh giáo mà chị đã từng điên cuồng chống lại, chị nói thẳng với tôi rằng tôi cần phải biết cách vượt qua” cơn trầm cảm và chứng điên, và rằng tâm hồn tôi sẽ khô héo đi nếu tôi uống thuốc. Thái độ tệ hại hơn của chị so với tôi, kết phù hợp với sự nguy hiểm trong ý kiến của chị về việc dùng thuốc, đã làm cho mối quan hệ giữa chị và tôi càng khó duy trì. Một buổi tối, cách đây đã nhiều năm về trước, chị đã khoét sâu thêm vào nỗi đau của tôi, vì tôi đã “đầu hàng bọn y tế có tổ chức” khi “Lithi hoá tâm hồn của tôi”. Chị nói, tâm hồn tôi đã bị khô cứng lại, lửa đang cháy lan ra và tôi chỉ đang là cái vỏ của chính mình trước đó. Điều này đã giáng thẳng vào thần kinh của tôi. Tôi nghĩ là chị đã biết điều này rồi, nhưng cố ý trêu ngươi người đàn ông chuẩn bị đi ra ngoài cùng với tôi. Anh ta đã thấy tôi ốm yếu, nhưng không thấy những triệu chứng của bệnh điên. Anh ta cố dùng tài hóm hỉnh để tránh né tình huống này – “Có thể chính chị gái của em mới là cái vỏ của chị ấy trước đây”, anh ta nói, “Tuy nhiên cái vỏ của chị ấy cứng quá, anh chẳng thể làm gì nổi”. Ngay sau đó chị tôi tiễn anh ta, để lại tôi ốm yếu một mình ở trong nhà, cùng với mối nghi ngờ về quyết định uống Lithi.

Tôi không dám thân thiện bất kỳ ai đại diện cho phái mà chị tôi nói là mưu toan can thiệp vào tâm hồn không bị nhiễm thuốc của tôi, vào nền giáo dục vốn dạy tôi rằng con người ta cần phải có khả năng tự khắc phục mọi thứ, và quyến rũ tôi khỏi tâm trạng hứng thú và đê mê của mình. Khi đó tôi chỉ mới khởi đầu hiểu được rằng không chỉ tâm hồn tôi, mà cả sinh mệnh tôi đang đứng trước hiểm nguy. Tuy nhiên, tôi cũng được dạy dỗ rằng tôi không thể tuân phục mà không tranh đấu. Tôi thực sự tin vào những điều tôi đã được dạy dỗ rằng tôi cần phải tự tìm cách vượt qua khó khăn, tự tin, và không phụ thuộc vào người khác trong khắc phục các vấn đề của mình. Tuy nhiên, khi nhìn lại những tổn thất mà niềm tin ngu xuẩn và niềm tự hào mù quáng ấy đã mang lại, nay tôi lại đắn đo tự hỏi: Vì sao mình lại có thể tư duy kỳ cục đến thế nhỉ? Tôi cũng từng từng được dạy rằng tôi phải biết tư duy cho chính mình. Vậy vì sao khi đó tôi lại không nghi ngờ những lời khuyên cứng nhắc và không thích hợp về ý chí tự lực này? Vì sao tôi lại không thấy rằng sự kháng cự của tôi là ngu xuẩn biết chừng nào?

Vài tháng trước đó, tôi đề xuất bác sỹ tâm thần cho tôi xin một bản sao hồ sơ điều trị của tôi. Tôi vô cùng bối rối khi đọc lại toàn thể y bạ. Sau sáu tháng khởi đầu sử dụng Lithi, tháng 3/1975 tôi đã ngừng không uống thuốc nữa. Chỉ trong vòng vài tuần, tôi đã bị điện và rơi vào trầm cảm nghiêm trọng. Cuối năm đó, tôi khởi đầu dùng lại Lithi. Đọc lại những dòng ghi chép của bác sỹ khi đó, tôi kinh hoàng nhận thấy sự tiếp diễn của bệnh.

Ngày 17/7/1975: Người bệnh quyết định uống Lithi trở lại, vì bị trầm cảm nghiêm trọng. Khởi đầu với Lithi 300g, hai lần mỗi ngày.

Ngày 25/7/1975: Bị nôn.

Ngày 5/8/1975: Chấp thuận uống Lithi. Người bệnh suy sụp khi nhận thấy rằng cô ta mắc chứng hưng trầm cảm nặng hơn cô nghĩ.

Ngày 30/9/1975: Người bệnh lại ngừng uống Lithi. Cô ta nói, việc chứng minh rằng cô ta có thể vượt qua ức chế mà không cần đến Lithi là rất trọng yếu.

Ngày 2/10/1975: Kiên quyết không uống Lithi. Chứng hưng trầm cảm lại tái phát. Bệnh nhận ra rõ điều này.

Ngày 7/10/1975: Người bệnh nối lại việc uống Lithi vì ngày càng trầm cảm, mất ngủ và không thể tập trung tư duy được.

Sự ngang bướng của tôi một phần do bản chất của con người. Hiếm hoi ai bị bệnh, dù là mãn tính hay cấp tính, lại tự nguyện uống đầy đủ thuốc theo đơn của bác sỹ. Một khi có dấu hiệu bệnh đã tiến triển hoặc qua khỏi, việc uống thuốc càng trở nên khó khăn hơn. Trong trường hợp của tôi, mỗi khi thấy mình khoẻ lại, tôi không có nhu cầu cũng như động cơ để tiếp tục uống thuốc. Tôi không muốn uống thuốc, trước hết vì không muốn chịu những tác dụng phụ mà tôi rất khó làm quen. Tôi cũng nhớ tâm trạng hứng thú cao độ của mình. Và một khi đã trở lại bình thường, tôi càng khó tin rằng mình đã mắc một chứng bệnh mà nó có thể đơn giản quay trở lại. Trong chừng mực nào đó tôi cũng tin rằng mình là trường hợp ngoại lệ, cho dù các công trình phân tích đã chứng minh một cách rõ ràng rằng chứng hưng-trầm cảm không chỉ quay trở lại, mà còn quay lại ở mức nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn.

Nguyên nhân không phải vì tôi nghĩ rằng Lithi là loại thuốc không hiệu quả. Trái lại, những bằng chứng cho tính hiệu quả và an toàn của nó là rất thuyết phục. Ngoài ra, tôi còn biết thuốc này có tác dụng tốt so với tôi. Cũng không phải vì trong thâm tâm tôi phản đối việc điều trị tâm thần bằng thuốc. Trái lại, tôi đã và vẫn không tha thứ cho bất kỳ ai – nhất là các bác sỹ tâm thần và các nhà tâm lý học – phản đối việc dùng thuốc trong điều trị bệnh tâm thần. Tôi cũng phản đối những người tìm cách tách biệt giữa “bệnh y” có thể chữa trị được, như bệnh Hodgkin hay ung thư vú, với các loại bệnh tâm thần, như trầm cảm, hưng – trầm cảm và tâm thần phân liệt. Tôi hoàn toàn tin rằng hưng-trầm cảm là một loại bệnh. Tôi cũng tin rằng, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, việc chữa chứng bệnh này mà không dùng đến thuốc là sai lầm. Tuy nhiên, khi gạt toàn bộ những niềm tin này sang một bên, tôi vẫn tin rằng tôi có khả năng vượt qua bệnh tật mà không cần thuốc và tôi có thể tiếp tục cuộc sống theo cách của mình.

Bác sỹ tâm thần của tôi, người đã lắng nghe rất nghiêm túc mọi lời phàn nàn của tôi – về tình trạng buồn nôn kéo dài, những tác dụng phụ và các vấn đề về giá trị nhân phẩm mà tôi đã được dạy dỗ – vẫn nhất định rằng tôi cần phải uống Lithi. Ơn Chúa, ông đã không bị rơi vào mạng lưới chằng chịt những nguyên nhân xúc động của tôi về việc vì sao tôi lại không thử sống không cần thuốc một lần nữa. Ông giữ vững sự lựa chọn cơ bản của mình: Vấn đề ở đây không phải Lithi là loại thuốc vẫn đang còn tranh cãi, không phải là tôi nhớ cảm nghĩ hứng thú của mình hay không; và cũng không phải việc uống thuốc có phù phù hợp với một số ý kiến của gia đình tôi về nhân phẩm hay không. Vấn đề cơ bản ở đây là tôi có đồng ý uống Lithi không điều độ và vì vậy mà bệnh điện và trầm cảm sẽ quay trở lại hay không. Sự lựa chọn ở đây, như ông nhìn thấy – và nay tôi cũng đớn đau nhận thấy – là giữa điện với tỉnh táo và giữa cuộc sống với chết chóc. Bệnh điên của tôi đã xảy ra thường xuyên hơn và với bản chất ngày càng “hỗn tạp” hơn (Nghĩa là hiện tượng hứng thú, mà tôi nghĩ là bệnh “điên trắng” bao trùm trước đó đã bị lấn át bởi sự suy sụp kéo dài). Sự suy sụp của tôi cũng trở nên tồi tệ hơn và có rủi ro tự tử cao hơn. Bác sỹ đã chỉ cho tôi thấy rằng rất ít thuốc điều trị không gây tác dụng phụ và trong toàn bộ các loại thuốc được xem xét, Lithị ít gây tác dụng phụ hơn hết. Tất nhiên, cách điều trị ngày nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với các phương pháp điều trị tàn nhẫn và không hiệu quả trước đó – như xích, để cho chảy máu, quấn mền ướt, nhốt riêng và chườm đá – và các loại thuốc chống co giật cũng từng có hiệu quả hơn rất nhiều và ít gây tác dụng phụ, nhưng so với những người mắc chứng hưng-trầm cảm, Lithi vẫn là loại thuốc rất có hiệu quả. Khi đó tôi đã biết toàn bộ những điều này, và nay tôi càng tin vào điều đó.

Trên thực tiễn, ẩn sau toàn bộ những nguyên nhân trên, tôi còn một nỗi lo sợ ngấm ngầm nữa, này là Lithi có thể không có tác dụng. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi uống Lithi mà vẫn bị bệnh? Trong lúc đó, nếu tôi không uống Lithi, tôi sẽ không phải chứng kiến nỗi lo sợ nhất của mình trở thành sự thật. Bác sỹ tâm thần đã sớm nhận thấy nỗi lo này của tôi. Trong hồ sơ bệnh án của tôi, ông đã ghi một câu thâu tóm rất đầy đủ nỗi lo sợ này của tôi: Người bệnh coi uống thuốc như một triển vọng được chữa khỏi, nhưng nếu thuốc không có tác dụng, đây sẽ là nguyên nhân để tự tử. Cô ta lo ngại rằng với việc uống thuốc, cô ta sẽ mất đi chỗ lựa cuối cùng.

Nhiều năm sau, tôi được dự cuộc gặp mặt của hơn một nghìn bác sỹ tâm thần trong phòng lớn của một khách sạn. Nhiều người trong số họ chỉ mải mê ăn uống, thức ăn và đồ uống miễn phí đã trở thành một phương pháp để kéo các bác sỹ ra khỏi công việc thường ngày của họ. Tạp chí vẫn thường nói tới mùa di chuyển của các bác sỹ tâm thần vào tháng 8, nhưng có một cuộc tụ hội khác trong tháng 5 – tháng có số vụ tự tử cao nhất – khoảng 15.000 bác sỹ tâm thần tới dự hội nghị hàng năm của Hiệp hội Tâm thần Mỹ. Tôi cùng một vài đồng nghiệp phát biểu về những tiến bộ trong chẩn đoán, phân tích bệnh lý và điều trị bệnh hưng-trầm cảm. Tất nhiên là tôi ưng ý khi thấy chứng bệnh mà mình mắc phải đã thu hút sự quan tâm của nhiều người đến vậy. Đây là một trong những năm mà vấn đề này được quan tâm nhiều. Tôi biết rằng vào những năm khác, chắc rằng người ta sẽ quan tâm tới những chứng bệnh khác, tới bước ngoặt trong điều trị một chứng bệnh nào đó, hay những tiến bộ trong kỹ thuật chụp cắt lớp, thậm chí cả những vụ kiện tụng tốn kém, hay vấn đề bồi thường của các trung tâm tư vấn du học bảo hiểm.

Tôi được mời nói về tâm lý và những khía cạnh y học của việc điều trị bằng Lithi. Giống như nhiều bài nói khác, tôi khởi đầu bằng việc dẫn lời “một bệnh nhân hưng – trầm cảm”. Tôi đọc đoạn dẫn cứ như là do ai đó viết ra, mặc dù này là những trải nghiệm của chính bản thân mình tôi.

Những thắc mắc dồn dập như không khi nào kết thúc cuối cùng cũng chấm hết. Bác sỹ tâm thần nhìn tôi và nói bằng một giọng đoan chắc: “Bệnh rối loạn lưỡng cực”. Tôi ngưỡng mộ sự thẳng thắn của ông, nhưng cũng ước gì điều ông nói không phải là sự thực. Im lặng, một trận chiến dữ dội diễn ra trong nội tâm. Tôi mỉm cười ưng ý. Ông cũng mỉm cười đáp lại. Và trận chiến chỉ mới khởi đầu.

Sự thật của tình huống này đã làm cả hội trường ồ lên, bởi lẽ hiếm hoi một bác sỹ tâm thần nào lại không phải đương đầu với hiện tượng người bệnh hưng-trầm cảm chống lại các biện pháp điều trị, một cách tinh tế hoặc thẳng thừng. Câu cuối “Và cuộc chiến mới chỉ bắt đầu” đã làm cả hội trường cười ồ. Tuy nhiên, trong sự dí dỏm ấy hàm chứa một cái gì đó đớn đau hơn. Việc không chịu uống Lithi, thật đáng tiếc, đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người bệnh mỗi năm. Việc không chịu uống thuốc hầu hết khi nào cũng dẫn tới tái phát bệnh và nhiều trường hợp dẫn tới thảm họa. Vài năm sau trận chiến chống lại Lithi của chính mình, tôi đã thấy hiện tượng này lặp lại ở một người bệnh của tôi. Anh ta đã làm cho tôi đớn đau nhớ lại cái giá phải trả cho việc không chịu uống thuốc.

Phòng cấp cứu của phòng khám UCLA sôi động bác sỹ, thực tập sinh và sinh viên y khoa. Thật kỳ cục, đó cũng là nơi đầy rẫy bệnh tật và chết chóc. Mọi người đi lại rất nhanh, với niềm tự tin rằng sự thông minh, được huấn luyện tốt và trong những tình huống cấp bách sẽ tạo ra những kết quả tốt. Vì một nguyên nhân kỳ lạ nào đó, khi đọc tới tên ER – một trong những người bệnh của tôi được nhập viện với bệnh tâm thần nặng – tôi bỗng thấy người nôn nao và nhịp tim rối loạn. Ngay lúc đó một tiếng thét thất thanh phát ra từ một phòng khám – tiếng thét hoảng sợ và chắc rằng là bị điên. Tôi chạy vội dọc hành lang, vượt qua các y tá, vượt qua một bác sỹ đang thông báo phác đồ điều trị cho một người bệnh, rồi vượt qua một bác sỹ phẫu thuật đang chú tâm xem PDR với một cốc cà phê trên tay, trong lúc chiếc kẹp cầm máu vẫn còn kẹp chặt và đung mang trên tay áo cộc của chiếc áo choàng mổ và chiếc ống nghe vẫn còn đeo lủng lẳng trên cổ.

Tôi mở cửa căn phòng nơi có tiếng thét phát ra và tim tôi thót lại. Người trước nhất tôi nhìn thấy là bác sỹ thần kinh trực, mà tôi biết, và anh ta nhìn tôi cười thông cảm. Tiếp đó, tôi nhìn thấy người bệnh của tôi, bị trói ghì xuống cáng bằng dây da. Anh ta nằm ngửa, chân tay giang rộng, mỗi cổ tay và cổ chân bị trói vào cáng bằng dây da. Một dây da khác chẳng qua ngực. Tôi thấy buồn nôn. Mặc dù rất kiềm chế, tôi vẫn thấy sợ. Một năm trước đó chính người bệnh này đã kề dao vào cổ tôi trong một lần điều trị ở phòng khám của tôi. Khi đó, tôi đã phải gọi công an và anh ta bị mang vào khoa người bệnh cần phải nhốt riêng của Viện Tính năng thần kinh UCLA, Bảy mươi hai giờ đồng hồ sau, anh ta được mang trở lại cộng đồng. Và được mang trở lại cho tôi điều trị. Tôi nhận thấy một điều nghịch lý rằng hai trong ba công an đứng quanh chiếc cáng đã đặt tay vào súng, rõ ràng là họ nhận thấy rằng người bệnh này là “mối đe dọa cho chính bản thân anh ta và cho người khác”, nhưng viên thẩm phán đã không cho là như vậy.

Anh ta lại thét lên. Này là tiếng thét thực sự nguyên sơ và sợ hãi, một phần vì chính anh ta đã sợ hãi, một phần vì anh ta rất cao, to, và hoàn toàn bị rối loạn tâm thần. Tôi đặt tay lên vai anh ta. Tôi thấy toàn thân anh ta run lên, vượt ra ngoài tầm kiểm tra. Tôi chưa khi nào thấy sự sợ hãi đến thế trong mắt của bất kỳ ai, cũng chưa thấy ở ai nỗi đau trong thâm tâm và sự lo sợ theo bản năng đến thế. Điện mê sảng có rất nhiều loại và toàn bộ đều rất kỳ cục, tới mức khó có thể tả thành lời. Bác sỹ trực đã tiêm cho anh ta khá nhiều thuốc chống loạn thần kinh, nhưng thuốc vẫn chưa phát huy tác dụng. Anh ta bị ảo giác, hoang tưởng, nói lảm nhảm và bị ảo giác cả về hình ảnh lẫn tiếng động. Anh ta làm cho tôi nhớ tới bộ phim, trong đó có cảnh những con ngựa bị kẹt trong hỏa hoạn, đôi mắt hoang dại của chúng hiện lên sự sợ hãi, trong lúc toàn thân chúng thì run lên trong kinh khủng. Tôi bóp chặt vai anh ta và khẽ lắc: “Bác sĩ Jaminson đây. Anh vừa được tiêm Haldol. Chúng tôi sẽ đưa anh về khoa. Anh sẽ ổn thôi”. Tôi bắt gặp ánh nhìn của anh ta. Sau đó anh ta lại thét lên. Tôi nói: “Anh sẽ khỏi. Tôi biết vào lúc này anh không tin, nhưng anh sẽ trở lại bình thường”. Tôi nhìn lướt qua ba tập hồ sơ bệnh án dày cộp của anh ta để trên chiếc bàn gần đó. Tôi nghĩ tới việc anh ta đã phải vào viện không biết bao nhiêu lần và đắn đo không biết điều mình vừa nói có thật không.

See also  Khối lượng riêng là gì? Công thức tính khối lượng riêng

Tôi không nghi ngờ gì việc anh ta sẽ khỏi. Tuy nhiên, thời gian khỏi bệnh của anh ta kéo dài được bao lâu thì lại là vấn đề khác. Lithi rất thích hợp cho anh ta, nhưng một khi ảo giác và nỗi sợ hãi của anh ta chấm hết, anh ta có thể sẽ lại không uống thuốc nữa. Cả bác sỹ trực lẫn tôi đều không cần xem kết quả xác minh lượng Lithi trong máu của anh ta khi được mang tới phòng cấp cứu. Chắc nịch là không có một lượng Lithi nào trong máu của anh ta cả. Kết quả là điện. Tiếp đó chắc rằng sẽ là sự suy sụp đến mức muốn tự tử. Cùng với nó là nỗi đau khôn tả và sự rạn nứt trong cuộc sống anh ta, cũng như của các thành viên khác trong nhà anh ta. Mức độ nghiêm trọng của sự suy sụp là hình ảnh phản chiếu mức độ nguy hiểm của bệnh điên ở anh ta. Tóm lại anh ta đã mắc một chứng bệnh rất tồi tệ, nhưng không phải là hiếm. Lithi rất hữu ích cho anh ta, nhưng anh ta không uống. Khi tôi đứng đó cạnh anh ta trong phòng cấp cứu, tôi có cảm nghĩ rằng toàn bộ thời gian, nỗ lực và nhiệt tâm mà tôi và những người khác đã nỗ lực dành để chữa trị cho anh ta đã mang lại rất ít kết quả, hoặc chẳng có tác dụng gì.

Dần dần Haldol cũng khởi đầu phát huy tác dụng. Tiếng kêu thét đã ngừng lại và sự kháng cự điên cuồng của anh ta cũng biến mất. Anh ta đã bớt sợ hãi hơn và ít hoảng sợ hơn. Một lát sau anh ta nói với tôi bằng một giọng líu ríu và chậm: “Đừng bỏ tôi, Bác sĩ Jaminson. Xin bà đừng bỏ tôi”. Tôi đảm bảo với anh ta rằng tôi sẽ lại bên anh ta cho tới khi anh ta được mang về khoa. Tôi biết, tôi là người thường có mặt trong suốt thời gian anh ta điều trị tại phòng khám, tại các buổi điều trần ở toà án, trong các cuộc gặp gia đình và khi anh ta suy sụp. Là bác sỹ tâm thần của anh ta trong nhiều năm, tôi được anh ta chia sẻ nhiều điều thầm kín về những giấc mơ và nỗi sợ hãi, về những mối quan hệ đầy hứa hẹn nhưng sau đó bị tàn phá và những plan vĩ đại cho tương lai nhưng sau đó bị tan vỡ. Tôi nhìn thấy ở anh ta sự sôi nổi, lòng dũng cảm và sự hóm hỉnh. Tôi thích và rất tôn trọng anh ta. Tuy nhiên, tôi cũng ngày càng thất vọng trước việc anh ta hết lần này đến lần khác không chịu uống thuốc theo đơn. Bằng kinh nghiệm của mình, tôi hiểu những lo ngại của anh ta trong việc uống Lithi, nhưng chỉ đến đó thôi, còn vượt qua hạn chế ấy, anh ta sẽ khó có thể tránh được sự tái phát của những cơn điên đớn đau, đã được dự đoán trước.

Không một liệu pháp tâm lý nào, nền giáo dục nào, sự thuyết phục nào và sự cưỡng ép nào thành công với anh ta. Không một phác đồ điều trị nào mà các bác sỹ và y tá vạch ra cho anh ta mang lại kết quả. Liệu pháp gia đình không có tác dụng. Việc phải thường xuyên vào viện, các mối quan hệ bị tan vỡ, tài chính khủng hoảng, mất việc làm và bị tống giam đã làm hoài phí một trí tuệ sáng tạo và được giáo dục tốt. Không có bất kì thứ gì mà tôi, hay những người khác nghĩ ra có thể có tác dụng. Trong nhiều năm tôi đã đề xuất một vài đồng nghiệp tư vấn điều trị cho anh ta, nhưng giống như tôi, họ cũng không tìm được cách nào thuyết phục nổi anh ta và không tìm được khe hở nào trên chiếc vỏ bọc thép để đi vào tâm hồn anh ta. Tôi đã dành nhiều giờ đồng hồ trò chuyện với bác sỹ tâm thần của chính tôi về anh ta, một phần để xin lời khuyên của ông về cách điều trị, một phần để đảm bảo rằng việc tôi uống Lithi không điều độ đã không thúc đẩy xấu tới anh ta. Những cơn điên và suy sụp của anh ta xuất hiện thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn. Không có bất kì một sự đột phá nào và cũng không có kết cục có hậu. Không một biện pháp nào, cả y học lẫn tâm lý, có thể làm cho anh ta uống thuốc đủ lâu để duy trì sự tỉnh táo. Lithi có hiệu quả, nhưng anh ta không uống. Mối quan hệ của tôi với anh ta có tác dụng thuyết phục, nhưng chưa đủ. Anh ta mắc bệnh quá nặng và nó đã cướp đi sinh mệnh của anh ta – giống như hàng chục nghìn người khác mỗi năm. Những gì mà chúng tôi có thể làm cho anh ta là có hạn chế và điều đó đã làm cho tâm hồn tôi tan nát. 

Toàn bộ tất cả chúng ta đều khó chịu khi phải vận hành trong những hạn chế của chính mình.

Nhà xác

Tôi đã phải gặt hái những kết quả cay đắng của việc không chịu uống Lithi điều độ. Sau thời kỳ điên với tâm trạng hưng phấn khi nào cũng là thời kỳ trầm uất kéo dài, với cõi lòng tan nát, đen tối và vô vọng tới mức muốn tự tử. Thời kỳ trầm uất này có thể kéo dài tới hơn một năm rưỡi. Từ khi thức dậy vào buổi sáng cho đến khi đi ngủ vào ban tối, tôi thấy khổ sở tới mức không chịu đựng nổi và không thể tìm thấy bất kì điều gì vui thú để khuyến khích khích lệ. Toàn bộ – từ tư duy, lời nói, cử chỉ – đều phải nỗ lực. Toàn bộ những thứ đã từng lung linh kì ảo, nay đều trở nên vô vị. Tôi tự thấy mình ngu ngốc, buồn tẻ, kém cỏi, ngu độn, tối tăm, vô cảm, lạnh lùng, nhẫn tâm và nhơ bẩn. Tôi hoàn toàn không tin rằng mình có thể làm được điều gì đó tốt đẹp. Trí tuệ của tôi hình như bị mòn mỏi và tàn lụi tới mức trở nên vô dụng. Một mớ những điều khốn khổ và thảm bại chồng chéo nhau ấy như càng dày vò tôi về những yếu kém và khiếm khuyết của chính mình, và nhạo báng tôi về sự liều lĩnh và vô vọng đến cùng cực. Nếu cứ như vậy thì sống để làm gì? Tôi vẫn tự hỏi mình như vậy. Những người khác có thể nói: “Đó chỉ là tạm thời, nó sẽ qua đi và tôi sẽ lại trở lại bình thường”. Tuy nhiên, chắc rằng là họ không biết tôi đang cảm thấy gì, cho dù họ vẫn tin rằng họ biết. Tôi đã tự nói đi nói lại với mình rằng nếu tôi không cảm thấy gì, không thể hành động gì, không thể tư duy và không thể chăm sóc cho chính mình, thì cuộc sống của tôi phỏng có ích gì?

Cảm nhận bệnh hoạn trong tôi thật kinh khủng. Tôi luôn nhìn thấy chết chóc gắn bó với những gì liên quan đến chết chóc. Qua con mắt ở trong đầu mình, tôi nhìn thấy chết chóc ở khắp nơi, thấy những tấm vải bọc tử thi, những chiếc thẻ buộc vào chân người chết và những chiếc túi đựng tử thi. Toàn bộ đều gợi cho tôi nhớ rằng mọi chuyện đều kết thúc ở nhà xác. Trí nhớ của tôi chỉ nắm bắt được những điều tồi tệ của trí tuệ. Tư duy của tôi đi từ nỗi dày vò này sang điều khổ tâm khác. Nỗi dày vò sau tệ hại hơn nỗi dày vò trước. Và mọi việc đều đòi hỏi tôi phải nỗ lực hết sức mới làm nổi. Tôi phải mất hàng tiếng đồng hồ đồng hồ để gội xong mái tóc của mình và nó làm cho tôi kiệt sức nhiều giờ sau đó. Việc rót nước vào khay làm đá là vượt ra ngoài khả năng của tôi. Thỉnh thoảng tôi lại ngủ trong chính bộ quần áo tôi mặc ban ngày, bởi vì tôi quá kiệt sức tới mức không thể cởi quần áo ra được nữa.

Trong thời kỳ này, tôi tới khám bác sỹ tâm thần hai, ba lần mỗi tuần và cuối cùng tôi lại phải uống Lithi điều độ. Trong hồ sơ bệnh án của tôi, ông không chỉ ghi lại việc tôi uống thuốc

ví dụ, tôi đã uống thuốc chống suy nhược trong một thời gian ngắn và việc này đã làm cho tôi dễ bị kích động nguy hiểm hơn – mà còn tóm tắt cả tình trạng chán nản, vô vọng và xấu hổ mà chứng trầm cảm đã gây ra: “Thỉnh thoảng bệnh nhân muốn tự tử. Cô ta muốn nhảy từ nóc cầu thang của toà nhà trong bệnh viện”, “Bệnh nhân vẫn có nguy cơ tự tử khá cao. Nhập viện là điều không thể chấp nhận được đối với cô ta và tôi cho rằng cô ta không thể bị nhốt theo LPS (Luật tống giam của California)”; “Tuyệt vọng về tương lai, lo sợ bệnh tái phát và sợ phải đối mặt với những cái cô ta đã cảm thấy”; “Bệnh nhân cảm thấy rất khó xử trước việc cô đã có thái độ không thể tha thứ được, cho dù cô ta đang bị trầm cảm”; “Bệnh nhân không muốn quan hệ với mọi người khi bị trầm cảm vì nghĩ rằng sự suy sụp của mình là gánh nặng không thể chịu đựng nổi đối với người khác”; “Bệnh nhân sợ phải rời phòng khám của tôi. Đã không ngủ trong nhiều ngày. Tuyệt vọng”. Vào lúc này, cơn trầm cảm của tôi tạm lắng trong một thời gian ngắn, để sau đó đợt suy sụp nghiêm trọng hơn xảy ra. “Bệnh nhân cảm thấy như cô ta bị vỡ ra. Thất vọng vì cảm giác suy sụp trở lại”.

Bác sỹ tâm thần của tôi đã nhiều lần cố thuyết phục tôi nhập viện, nhưng tôi từ chối. Tôi hoảng sợ khi nghĩ tới việc mình bị nhốt, phải xa rời những gì thân thuộc mỗi ngày, phải tham gia các buổi trị liệu theo nhóm và phải chịu đựng toàn bộ những điều nhục nhã và sự xâm phạm đến đời tư cá nhân một khi trở thành người bệnh của khoa tâm thần. Khi đó, tôi đang làm việc ở khoa người bệnh phải nhốt và tôi không thích thú gì với ý tưởng mình không có chìa khoá trong tay. Trọng yếu nhất là tôi sợ rằng, nếu toàn bộ mọi người biết tôi phải vào viện, công việc và đặc ân của tôi ở phòng khám sẽ bị mất. Tệ hại hơn nữa, giấy phép hành nghề của tôi có thể sẽ bị tước vĩnh viễn. Vì vậy, tôi chống lại việc tự nguyện vào viện. Do luật giam giữ của California được soạn thảo vì lợi nhuận của các luật sư, hơn là của người bệnh, nên nó càng dễ làm cho tôi từ chối việc bị giam giữ tự nguyện. Cho dù tôi có tự nguyện bị giam giữ, thì cũng không có gì để đảm bảo rằng tôi sẽ không có ý định hay thực hiện việc tự tử trong thời gian điều trị ở khoa tâm thần. Bệnh xá tâm thần không phải là nơi hiếm xảy ra hiện tượng tự tử (Sau thời kỳ này tôi đã có một trao đổi rõ ràng với bác sỹ tâm thần và gia đình tôi rằng nếu tôi lại rơi vào trầm cảm nặng, họ được quyền chấp thuận, bỏ mặc sự phản đối của tôi nếu cần, để cho tôi được ứng dụng liệu pháp sốc điện, hay ECT, một phương pháp điều trị có hiệu quả so với một số loại trầm cảm nặng, hoặc tống tôi vào viện).

Vào thời điểm ấy, mọi thứ hình như đều không còn tác dụng nữa và bỏ mặc sự chăm sóc tuyệt vời về y tế, tôi chỉ muốn chết. Và tôi quyết tâm tự tử. Tôi lạnh lùng quyết tâm không để lộ bất kì dấu hiệu nào về plan hay ý định của mình. Tôi đã thành công. Một ngày xưa khi tôi mưu toan tự tử, bác sỹ tâm thần của tôi chỉ viết: “Rất tuyệt vọng. Hoàn toàn im lặng”.

Trong cơn giận dữ, tôi giật chiếc đèn trong phòng tắm ra khỏi tường. Tôi cảm thấy bạo lực lan tỏa khắp người, nhưng chưa tràn ra ngoài. “Vì Chúa”, ông bác sỹ tâm thần của tôi nói, ông chạy lao vào – và sau đó lẳng lặng chấm hết mọi chuyện. Chúa Jesus. Chắc nịch là tôi điên rồi, và tôi có thể nhìn thấy điều đó trong mắt ông: sự pha trộn kinh khủng của lo ngại, kinh hoàng, bực tức và nhẫn nhục. Nhưng vì sao lại là con, thưa Chúa? “Con có đau không?”, ông hỏi. Tôi quay đầu là với đôi mắt lướt nhanh, tôi nhìn thấy trong gương một dòng máu chảy dài xuống cánh tay tôi và thấm đẫm chiếc đai áo khoác trong nhà đẹp đẽ và gợi tình, mà mới chỉ một giờ trước đó nó được sử dụng trong một niềm khoái lạc tuyệt diệu hoàn toàn khác. “Con không thể chịu đựng được nữa. Con không thể chịu đựng được nữa”, tôi gào lên trong thâm tâm, nhưng không thể nói ra được thành lời. Tư duy cứ thế lao đi, rất xa và rất nhanh. Tôi đập đầu vào cửa, rồi lại đập đầu vào cửa. Chúa đã ngăn tôi lại. Tôi không chịu đựng được nữa. Tôi biết tôi lại bị điên. Tôi nghĩ Chúa thực sự quan tâm đến tôi, nhưng chỉ mười phút sau ông cũng thét lên và đôi mắt ông cũng nhuốm vẻ hoang dại, như lây nhiễm bệnh điện qua một tia vô hình giữa hai chúng tôi. “Ta không thể bỏ con trong tình cảnh này”. Tuy nhiên, tôi đã nói vài lời thực sự kinh khủng và truyền nó qua cuống họng của ông, theo đúng nghĩa của từ này. Ông bỏ đi vì bị khiêu khích tới mức không thể chịu đựng nổi và do không nhìn thấy sự tàn phá và vô vọng trong tôi. Tôi không thể truyền đạt nó cho ông và ông cũng không nhìn thấy, ông không còn gì để làm nữa. Tôi không thể tư duy được gì nữa. Tôi không thể làm dịu cơn sát khí này. Ý tưởng vĩ đại của tôi một giờ trước đó bỗng trở nên ngớ ngẩn và đáng khinh. Cuộc sống tôi đang tàn lụi và tệ hại hơn nữa, nó đã bị đổ nát và không thể trú ngụ trong thể xác tôi được nữa. Nguồn sinh lực điên khùng, đầy sức tàn phá và hoang dại đã thoát ra ngoài. Tôi nhìn thấy trong gương một sinh vật mà tôi không biết, nhưng chắc rằng là đã sống và chia sẻ trí tuệ cùng tôi.

Tôi đã hiểu vì sao Jekyll đã tự tàn phá cuộc sống mình trước khi Hyde tiếp quản nó. Tôi không ăn năn vì đã uống Lithi quá liều.

Trong giới bác sỹ tâm thần, nếu bạn tự sát, thì đó sẽ được xem là một vụ tự tử “thành công”. Này là một loại thành công mà người ta có thể không cần tới nó. Tôi quyết định tự sát trong một cuộc vật lộn kinh khủng tới mức không thể tả được kéo dài mười tám tháng. Trầm cảm đến mức tự sát có vẻ là phương pháp để Chúa giữ cho bệnh điên ở đúng chỗ của nó. Và nó có hiệu quả. Bệnh u sầu trầm trọng, có hôm xuất hiện có hôm không, có đêm xuất hiện có đêm không, quả là kinh khủng. Này là một nỗi đau ghê gớm, không ngớt, không một tia kỳ vọng và chỉ có sự tàn nhẫn. Tôi như không thể thoát ra khỏi dòng chảy ngầm của những tư duy và cảm nghĩ rét mướt vẫn bao trùm những đêm vô vọng và mất ngủ. Nếu gắn hành động tự sát với tư tưởng “thành công” hay “không thành công” của Thanh giáo, thì những ai “thất bại” trong việc tự giết mình sẽ không chỉ là yếu kém, mà còn bất tài và không đủ khả năng chết đúng cách nữa. Tuy nhiên, tự tử hầu như khi nào cũng bị coi là hành động phi lý và ít khi xảy ra khi người ta tỉnh táo. Đó cũng thường là hành động cấp thời, không xảy ra theo đúng plan ban đầu.

Ví dụ, tôi nghĩ rằng tôi đã vượt qua được mọi tình huống nguy cấp. Tuy nhiên, tôi không thể chịu đựng được nỗi đau lâu hơn nữa, không thể tiếp tục cuộc sống mệt mỏi và rã rời được nữa và không thể tiếp tục gây rắc rối cho gia đình và đồng bọn được nữa. Trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng tôi hành động như vậy chẳng qua cũng chỉ là một việc đáng làm, vì những người mà tôi quan tâm, giống như viên phi công mà tôi đã nhìn thấy, tự hy sinh cuộc sống mình để cứu những người khác vậy. Đó cũng là hành động biết điều duy nhất mà tôi có thể làm được. Nó giống như khi giết một loài vật người ta cảm thấy ít mất mát hơn nhiều.

Đã có thời điểm tôi mua một khẩu súng, nhưng trong một thoáng tư duy phân vân, tôi đã nói cho bác sỹ tâm thần của tôi biết và tất nhiên là tôi phải miễn cưỡng giã từ khẩu súng ấy. Sau đó, trong nhiều tháng, tôi đã leo lên tầng tâm của cầu thang trong phòng khám UCLA và đã rất nhiều lần chỉ chút xíu nữa là nhảy ra khỏi hàng rào chắn. Khi rơi vào trầm cảm tự sát, người ta không thể tư duy thận trọng, tính tới ngoại cảnh hay có bất kì một sự suy xét nào. Tuy nhiên, một ý nghĩ thoáng qua rằng gia đình tôi sẽ phải nhận dạng tôi bị ngã dập nát hết mặt mày đã làm cho tôi tin rằng phương pháp tự sát này là không thể đồng ý được. Vì vậy, tôi đã quyết định chọn phương án mà tôi nghĩ là thơ mộng và trọn vẹn nhất. Mặc dù Lithi đã cứu sống đời tôi, nhưng vào thời điểm rõ ràng ấy, nó đã làm tôi thống khổ và buồn tủi đến cùng cực. Và tôi đã quyết định uống Lithi quá liều rất cao.

Để tránh Lithi bị nôn ra, tôi đã tới phòng cấp cứu lấy một đơn thuốc chống nôn. Sau đó, tôi đợi đến khoảng giao thời giữa những giờ “theo dõi tự sát” mà đồng bọn, gia đình và bác sỹ tâm thần của tôi đã vạch ra. Sau đó, tôi chuyển smartphone ra khỏi phòng ngủ, dự phòng khả năng tối vô tình nhấc smartphone lên – tôi không thể nhấc hẳn tai nghe ra khỏi máy smartphone, vì tôi biết điều này sẽ báo động cho những người canh phòng tôi – và trong tâm trạng bị kích động mạnh mẽ và hung hãn, tôi uống hết nắm thuốc này đến nắm thuốc khác. Sau đó tôi quấn tròn trên giường chờ chết. Tuy nhiên, tôi đã không lường được rằng bộ óc khi uống thuốc sẽ phản ứng khác với lúc nó được cảnh giác. Khi chuông smartphone kêu, tôi chỉ có một tư duy là phải trả lời, vì vậy tôi đã bò ra khỏi giường, tới chiếc smartphone ở ngoài phòng khách trong trạng thái nửa mê man. Giọng nói yếu ớt của tôi đã làm cho anh tôi cảnh giác. Anh tôi gọi từ Pari về để hỏi xem tình hình của tôi ra sao. Ngay sau đó, anh tôi gọi điện cho bác sỹ tâm thần của tôi.

 

Không mưu toan tự tử cũng chưa hẳn đã là hay. Lithi đã từng được sử dụng để dạy sói đồng cỏ ở Bắc Mỹ không giết cừu. Chỉ cần cho sói đồng cỏ ăn thịt cừu đã được xử lý Lithi một lần là đã đủ để nó yếu tới mức không bắt cừu nữa. Tôi đã suy sụp tới mức yếu hơn hết sói đồng cỏ, yếu hơn một con chó và yếu tới mức không thể yếu hơn được nữa. Tôi rơi vào trạng thái lúc tỉnh, lúc mê trong vài ngày sau đó.

Rất lâu trước và sau thời điểm tôi định tự tử, một trong những người bạn của tôi đã giám sát tôi rất chặt. Anh xác nhận rõ với tôi rằng chúng tôi chỉ là bạn. Anh là một bác sỹ tâm thần. Anh là một người nồng hậu, nhưng tính khí hơi dị thường. Anh hóm hỉnh, nhưng hơi gần. Anh thích tìm hiểu những điều hơi kỳ dị, trong đó có tôi, và đã viết rất nhiều bài báo mê hoặc về các đề tài như chứng rối loạn tâm thần phân liệt và những lối sống hơi kỳ lạ kiểu như Sherlock Holmes. Anh là người rất tận tâm và đã ở bên tôi hết tối này đến tối khác, đồng ý chịu đựng tính khí cáu gắt của tôi. Anh khoáng đạt với tôi cả về thời gian và tiền nong. Anh tin tưởng mãnh liệt rằng tôi sẽ vượt qua thời kỳ trầm cảm và cuối cùng sẽ mạnh khoẻ.

Đã vài lần, sau thời điểm tôi nói với anh rằng tôi cần yên tĩnh một mình và anh có thể gọi lại cho tội sau, vào lúc một, hai giờ sáng gì đó để xem tôi ra sao, nhưng qua giọng nói của tôi, anh đoán được tâm trạng tôi khi đó và bỏ mặc việc tôi đề xuất được ở một mình, anh vẫn nằng nặc đòi tới thăm. Thường thì anh lấy cớ rằng “Tôi không ngủ được, chẳng lẽ cô lại từ chối có một người bạn ở cùng sao?”. Biết rõ là anh chỉ muốn tới để xác minh xem tôi ra sao thôi, nên tôi nói: “Đúng thế. Hãy tin tôi đi. Tôi có thể từ chối. Hãy để tôi một mình. Tôi không sao đâu”. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1 đến 2 phút sau anh gọi lại và nói: “Tôi xin cô đấy. Tôi khẩn khoản xin cô đấy. Tôi thực sự cần có bạn. Chúng ta có thể đi đâu đó, cùng ăn kem”. Thế là chúng tôi gặp nhau vào cái giờ mà chẳng ai hẹn gặp cả. Tôi kín đáo thổ lộ lòng tri ân anh vô hạn, còn anh thì khéo léo để tôi không có cảm nghĩ rằng tôi là gánh nặng quá lớn cho anh. Anh là món quà tặng hiếm hoi của tình bạn.

Tự dưng anh lại là bác sỹ  trực ở phòng cấp cứu trong những dịp cuối tuần. Sau ý định tự tử của tôi, anh và bác sỹ  tâm thần của tôi đã vạch ra chương trình chăm sóc y tế và giám sát tôi. Anh thường xuyên giám sát và lấy máu của tôi để xác minh lượng Lithi và điện phân. Anh liên tục lôi tôi đi dạo, để kéo tôi ra khỏi tình trạng mơ màng của thuốc, giống như người ta kéo con cá mập bị ốm bơi vòng quanh bể để cho nước lưu thông qua mạng của nó vậy. Anh là người duy nhất có thể làm cho tôi cười trong thời kỳ tồi tệ này. Giống như chồng tôi, người mà tôi đã li dị về mặt pháp lý, nhưng vẫn giữ liên lạc với nhau, anh đã có những thúc đẩy dịu dàng và êm ái lên tôi mỗi khi tôi gắt gỏng, rối loạn và muốn làm rối tung mọi chuyện lên. Anh chăm sóc tôi suốt những ngày tệ hại nhất của cuộc sống mình. Vì vậy sau bác sỹ tâm thần của tôi và gia đình tôi, anh là người tôi mang ơn nhiều nhất trong cuộc sống mình.

Ân huệ của bác sỹ tâm thần so với tôi là không gì tả xiết. Tôi nhớ đã ngồi trong phòng khám của ông hàng trăm lần trong những tháng nghiệt ngã này. Mỗi lần như vậy tôi lại nghĩ, “Không hiểu ông sẽ nói cái quái gì đây để có thể làm cho tôi cảm thấy tốt hơn hay để giữ cho tôi sống?”. Tuy nhiên, điều hài hước là hình như ông chẳng nói gì cả. Có vẻ toàn bộ đều trở nên ngu xuẩn và lạc quan vớ vẩn, nếu so với những gì ông không nói mà vẫn giữ được tôi tiếp tục sống. Tình thương và sự nồng hậu mà tôi cảm thu được từ ông là không thể nói lên thành lời. Nó chứa đựng trong đó toàn bộ sự thông minh, năng lực và thời gian mà ông dành cho tôi và niềm tin vững chắc của ông rằng cuộc sống tôi là đáng sống. Ông là người rất thẳng thắn – một tiêu chuẩn rất trọng yếu và sẵn sàng thừa nhận những hạn chế của mình trong hiểu biết và điều trị mỗi khi ông bị sai. Rất khó nói lên thành lời, nhưng bằng nhiều cách khác nhau, ông đã cho tôi thấy bản chất thực của mọi chuyện. Ông đã dạy cho tôi rằng đoạn đường từ tự tử đến cuộc sống là chán nản và vô vọng, nhưng – với quyết tâm sắt đá và nhờ ơn Chúa, giống như thời tiết chắc rằng phải thay đổi vậy – tôi sẽ vượt qua toàn bộ.

Mẹ tôi cũng là một người tuyệt vời. Mẹ tôi nấu ăn cho tôi trong suốt những thời kỳ trầm cảm kéo dài. Bà giúp tôi giặt giũ quần áo và trả tiền thuốc cho tôi. Bà chịu đựng sự gắt gỏng và tâm trạng chán nản của tôi, mang tôi tới bác sỹ, tới tiệm thuốc và mang tôi đi mua hàng. Giống như mèo mẹ nhẹ nhõm lôi những chú mèo con chạy lăng xăng về nhà bằng cách ngâm vào cổ chúng, mẹ tôi luôn để mắt đến tôi và mỗi khi tôi loạng choạng đi nơi nào đó quá xa, bà lại kéo tôi về trong phạm vi an toàn cả về địa lý lẫn tâm hồn, trong sự bảo vệ và chăm sóc của bà. Sức mạnh to lớn của bà đã ngấm dần vào trong xương tủy đã kiệt sức của tôi. Sức mạnh ấy, cùng với thuốc điều trị cho bộ óc của tôi và liệu pháp tâm lý tuyệt vời cho tâm hồn tôi, đã dần kéo tôi ra khỏi những ngày vô cùng khó khăn ấy. Nếu không có bà, chắc tôi không thể nào tồn tại được. Đã có lần tôi nỗ lực ngồi soạn bài, nhưng không hiểu nó có ý nghĩa gì không và nếu tôi giảng bài thì chắc nó cũng hỗn loạn và lộn xộn kinh khủng giống như đầu óc của tôi vậy. Vào những lúc như vậy, điều thường giúp tôi vượt qua được chính là niềm tin mà mẹ đã truyền cho tôi từ nhiều năm trước, này là ý chí, kiên trì và trách nhiệm là những phẩm cách giúp con người ta trở nên thành đạt. Mỗi khi có một trận bão kinh khủng nào đó tràn tới với tôi, thì mẹ tôi – với tình yêu và niềm tin mạnh mẽ của bà về giá trị nhân phẩm tạo ra trong tôi những luồng gió ngược mạnh mẽ và bền chắc chống lại cơn lốc ấy.

Những gì chúng tôi được dạy dỗ trong cuộc sống là phức tạp, to lớn và không thể thâu tóm được. Nó giống như bố tôi, qua tính khí của ông, đã tạo ra trong tôi một con ngựa bất kham và hoang dại. Này là một con ngựa không tên, lúc nào cũng chạy lồng lên như không kiềm chế được. Mẹ tôi thì lại dạy tôi cách thuần hoá nó. Bà trao cho tôi những phép tắc và tình yêu để phá vỡ sự ngang bướng của con ngựa và – giống như Alexander hiểu rõ Bucephalas vậy – bà hiểu và dạy tôi rằng cách tốt nhất để thuần hoá nó là quay đầu nó hướng về Mặt trời.

Vả chứng điện lẫn trầm cảm của tôi đều chứa trong nó khía cạnh bạo lực. Bạo lực là điều không dễ nói ra, nhất là so với một phụ nữ. Điên dại tới mức vượt ra ngoài tầm kiểm tra – hành hung về thể xác, gào thét điên dại đến hết hơi, chạy tứ tung không nhằm mục đích hay hạn chế nào, hay vùng vằng lao ra khỏi xe – là những điều làm cho người khác phải hoảng sợ và tự mình cũng thấy kinh khủng tới mức không thể nói ra. Khi rơi vào những cơn điên mù quáng, tôi đã làm toàn bộ những điều đó, vào lúc này hay lúc khác, và những hành động đó thỉnh thoảng được lặp lại. Tôi vẫn nhận thấy một cách đớn đau và đúng đắn rằng việc kiểm tra và hiểu được những hành vi ấy là vô cùng khó, chứ đừng nói gì tới việc giải thích cho người khác hiểu. Trong những cơn bạo lực – khi tôi rơi vào trạng thái điên hoàn toàn – tôi đã phá hủy những gì tôi yêu thích và xô ngã những người mà tôi yêu quý, để khi tỉnh lại, tôi nghĩ mình sẽ không khi nào hết xấu hổ. Tôi cũng từng từng bị đè nén bằng sức mạnh vũ phu, bị đá và bị đẩy xuống nền nhà, bị đấm vào bụng trong lúc tay bị kéo quặt ra phía sau và bị nhét thuốc vào mồm bỏ mặc sự phản đối của tôi.

Tôi không biết bằng cách nào mà tôi có thể hồi phục được sau những hành động hầu hết đương nhiên phải xảy ra với những người điên ấy. Tôi càng không hiểu bằng cách nào mà mối quan hệ của tôi với đồng bọn và những người thân lại tồn tại được sau những trận đập phá hung tợn của tôi làm quần áo họ bị xé tả tơi trong nước mắt. Sau mỗi lần bạo lực như vậy, cũng như sau mưu toan tự tử không thành của tôi, toàn bộ những người quan tâm đến tôi đều đầy vết thâm tím trên người. Sống cùng với nhận thức rằng mình đã từng có hành vi bạo lực, đã từng mưu toan tự tử, là rất khó khăn. Nó giống như phải hoà hợp những ý niệm hoàn toàn đối lập nhau trong con người mình vậy. Sau ý định tự tử, tôi đã phải nỗ lực tự điều hoà giữa hình ảnh của một cô gái trẻ, đầy nhiệt huyết, tràn trề kỳ vọng và năng động, có hoài bão, tràn ngập tình yêu với cuộc sống, với một phụ nữ ngang bướng, hay gắt gỏng và thống khổ, người chỉ muốn chết và đã từng uống một liều Lithi chết người để thực hiện ý đồ ấy. Sau mỗi lần rối loạn tâm thần bạo lực, tôi lại phải nỗ lực tự điều hoà những ý niệm về chính mình, giữa một người có phép tắc và rất ít nói, nhạy cảm với tư duy và tâm trạng của những người khác, với một người hoàn toàn điện khùng, hung bạo vì mất hết lý trí và không kiểm tra được hành vi của mình.

Sự đối lập giữa cái mà người ta được dạy là thái độ đúng mực với mọi người với những gì xảy ra trên thực tiễn trong thời kỳ điên khùng hoặc rối loạn tâm thần, là hoàn toàn tương phản nhau tới mức không thể tả nổi – nhất là với một phụ nữ sinh ra và lớn lên trong toàn cầu có truyền thống bảo thủ. Nó cách quá xa so với sự duyên dáng và dịu dàng của mẹ tôi. Nó càng cách xa hơn so với quãng thời gian của những điệu nhảy côticông, những bộ váy áo bóng láng và lụa là, cùng những đôi găng tay trang nhã dài quá khuỷu tay có đính ngọc trai ở cổ tay, cái thời mà tôi chẳng có nỗi lo nào khác, ngoài việc phải Note để đường may của tất chân được kéo thẳng trước khi tới dự buổi tiệc tối Chủ nhật ở câu lạc bộ sỹ quan.

Trong những năm trọng yếu nhất định hình tính cách cá nhân, tôi đã lớn lên trong một toàn cầu khó tính và được dạy rằng phải nghĩ tới người khác, phải thận trọng và biết kiềm chế hành động của mình. Chủ nhật nào tôi cũng tới nhà thờ cùng với cả gia đình và mọi câu trả lời của tôi với người lớn luôn được đi cùng với từ “Dạ, thưa ông”, “Dạ, thưa bà”. Bố mẹ tôi chỉ khuyến khích tôi độc lập về trí tuệ, chứ không khuyến khích tôi tách rời xã hội. Thế rồi, đột nhiên tôi có hành động không thích hợp và phá hoại, tới mức không thể kiểm tra và dự đoán được. Đây không phải là cái mà lễ nghi hay phép xã giao có thể thắng thế. Vào những lúc như vậy, người ta không thấy Chúa ở đâu cả. Những điệu nhảy côticông, những bộ lễ phục và Cẩm nang nghi lễ bên bàn ăn dành cho tuổi thanh niên của Tiffany không thể, và nó cũng không có ý định, chuẩn bị lối hành xử cho người ta khi bị điện. Hành động tức giận và bạo lực không thể kiểm tra được vừa chết người, vừa không thích hợp và xa lạ với toàn cầu văn minh và có thể dự đoán được.

Từ lâu lắm rồi, tôi đã có xu thế thích cảm nghĩ mạnh và hồ hởi, thích sống và yêu với cái mà Delmore Schwartz gọi là “đỉnh cao của sự phởn phơ”. Tuy nhiên, dễ bị kích động khi nào cũng là mặt trái của sự phởn phơ. Cảm nhận mạnh mẽ không phải khi nào cũng xấu, tối thiểu cũng là trong thời kỳ đầu. Ngoài việc tạo ra sự hứng thú lãng mạn nhất định cho cuộc sống cá nhân của tôi, nó còn đóng góp tích cực vào cuộc sống sự nghiệp của tôi trong nhiều năm sau. Chắc nịch là nó đã châm ngòi và xúc tiến tôi viết nhiều bài báo, thực hiện nhiều công trình phân tích và tham gia các hoạt động tư vấn. Nó luôn xúc tiến tôi nỗ lực làm thay đổi tình hình. Nó làm cho tôi không hài lòng với cuộc sống hiện có và vì vậy mà buộc tôi phải nghỉ ngơi thấp hơn để có thể thành đạt hơn. Tuy nhiên, sự bực dọc kéo dài, kết phù hợp với sự thiếu nhẫn nại, quá hăng say và không được nghỉ ngơi đã làm cho tôi trở nên quá tức giận. Điều này là không phù phù hợp với một phụ nữ trang nhã, có giáo dục mà tôi được dạy rằng cần phải ngưỡng mộ và trên thực tiễn vẫn đang được tôi ngưỡng mộ.

Trầm cảm, trong chừng mực nào đó, có quan hệ thân thiện hơn với những giá trị xã hội của phụ nữ: tiêu cực, nhạy cảm, không kỳ vọng, bất lực, mệt mỏi, phụ thuộc, rối rắm, buồn chán và không có nhiều ham muốn. Trong lúc đó trái lại, trạng thái điên gần hơn với tính cách của đàn ông: ít nghỉ ngơi, hung hăng, xông xáo, dễ thay đổi, đầy sinh lực, sẵn sàng đồng ý rủi ro, có ý tưởng lớn và tầm nhìn xa và không ưng ý với tình trạng. Sự tức giận và gắt gỏng ở đàn ông, trong một số tình huống, là có thể tha thứ và có thể hiểu được. Các nhà lãnh đạo và những người lãnh đạo các chuyến hành trình xa phải có dải tính khí rộng hơn. Các nhà báo và nhà văn có xu thế gần với phụ nữ trầm cảm hơn là với phụ nữ điên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ trầm cảm

phụ nữ cao gấp đôi nam giới. Tỷ lệ mắc bệnh hưng-trầm cảm ở nam và nữ là ngang nhau, nhưng trong những điều kiện bình thường, điện thường tác động tới phụ nữ nhiều hơn. Những người này lại thường được chẩn đoán sai và điều trị tâm thần kém, kết quả là làm tăng rủi ro tự tử, nghiện rượu, nghiện ma tuý và bạo lực ở họ. Tuy nhiên, giống như những người đàn ông mắc chứng hưng-trầm cảm, những người phụ nữ này cũng đóng góp sinh lực, sự năng động, hăng say và trí tưởng tượng của họ cho những người xung quanh và cho toàn cầu.

Hưng – trầm cảm là chứng bệnh vừa tạo ra lửa vừa dập tắt lửa. Lửa, về bản chất, vừa có khả năng sáng tạo, vừa có khả năng tiêu diệt. Dylan Thomas đã viết: “Sức mạnh chảy qua dòng nhựa xanh tạo ra hoa trái/ Nhưng sức mạnh tuổi xanh của tôi, phá hoại rễ cây/ Lại là tàn phá”. Điên là một động lực kỳ lạ, một kẻ phá hoại và một ngọn lửa trong máu. Thật may là lửa trong máu đã tạo ra những lợi thế nhất định cho tôi trong toàn cầu y học, nhất là trong sự nghiệp của một giáo viên đại học.

Giáo viên đại học

Giáo viên đại học là nghề rất gần với trò bắn giết thú vật mà các trường đại học hàng đầu có thể tạo ra: này là sự đối đầu stress, tiêu hao sức lực, phấn khích, nhanh, khá tàn nhẫn và rất đàn ông. Theo đuổi sự nghiệp giáo viên ở một trường đại học y nơi trách nhiệm điều trị được xây dựng trên kết quả phân tích và giảng dạy – đòi hỏi người ta phải có những nỗ lực to lớn. Xét trên toàn bộ mọi khía cạnh, một phụ nữ, không phải bác sỹ điều trị và bị hưng-trầm cảm không nên đi theo đoạn đường khó khăn này.

So với tôi, việc trở thành giáo viên thường xuyên của trường đại học không chỉ nhằm đảm bảo an toàn cho tôi về mặt học vấn và tài chính. Chỉ trong vài tháng trước nhất làm giáo viên trợ giảng, tôi đã có những dấu hiệu ban đầu của bệnh tâm thần. Những năm theo đuổi sự nghiệp này, từ 1974 đến 1981, không chỉ là thời kỳ đối đầu vất vả trong giới y học đầy năng động và xông xáo. Trọng yếu hơn, đây là thời kỳ tôi phải vật lộn để duy trì sự tỉnh táo, để tồn tại và để sống chung với bệnh tật. Theo thời gian, tôi ngày càng quyết tâm tìm thấy những điểm tốt trong nỗi đau của mình và lợi dụng bệnh tật vào những việc có ích. Sự nghiệp giáo viên đại học vừa là khoảng thời gian để tôi tồn tại, vừa là thời kỳ giúp tôi chuyển hoá. Nó là biểu tượng cho sự ổn định mà tôi phải có và sự thừa nhận của xã hội mà tôi tìm kiếm, để có thể đối đầu và tồn tại được trong toàn cầu bình thường.

Ngay sau thời điểm được giao nhiệm vụ giảng dạy và làm bác sỹ điều trị ở khoa người bệnh người lớn, tôi đã nhanh chóng rơi vào trạng thái ít nghỉ ngơi. Tôi cảm thấy ngày càng khó giữ khuôn mặt bình thản khi thông báo kết quả xác minh tâm lý của các người bệnh trong khoa. Khi tìm cách diễn giải ý nghĩa của kết quả xác minh Rorschach, mà thường là có tính suy đoán, tôi có cảm nghĩ như mình đang nỗ lực bói bài hay bàn về sự link giữa các hành tinh vậy. Đây không phải là nguyên nhân để tôi lấy bằng tiến sỹ và tôi khởi đầu hiểu ý nghĩa câu nói của Bob Dylan: “Sau hai mươi năm đèn sách, người ta tống bạn vào làm việc theo ca kíp”. Sau hai mươi ba năm học tập, chính tôi cũng bị đẩy vào cảnh tương tự. Trong những năm đầu làm giáo viên ở trường đại học, tôi quan tâm tới rất nhiều ngành nghề. Trước nhất tôi phân tích về loài hyrax, voi và bạo lực. Tôi viết lại những gì đã phân tích, từ hồi đang là sinh viên đại học, về chất ma túy gây ảo giác (LSD), về cần sa và thuốc phiện. Tôi đã cùng với anh trai phân tích loài hải li. Cùng các đồng nghiệp ở khoa gây mê, tôi đã phân tích về hiện tượng đau và trạng thái ảo trong cảm nghĩ. Tôi là đồng tác giả của một cuốn sách giáo khoa về tâm lý không bình thường, được mang vào giảng dạy trong các trường đại học. Tôi tham gia phân tích thúc đẩy của cần sa tới hiện tượng nôn ở những người bệnh ung thư khi được hoá trị liệu. Tôi cũng tìm cách lý giải những hành vi của động vật trong vườn thú Los Angeles. Quả là quá nhiều và quá tản mạn. Mối quan tâm của tôi cuối cùng đã buộc tôi phải tập trung vào việc mình đang làm. Tôi thu hẹp dần mối quan tâm của mình vào phân tích và điều trị các chứng bệnh rối loạn tâm thần.

Rõ ràng hơn, và không có gì đáng ngạc nhiên, khi tôi đặc biệt quan tâm tới bệnh hưng-trầm cảm. Tôi quyết tâm tạo ra sự khác biệt trong cách nhìn nhận và điều trị chứng bệnh này. Hai đồng nghiệp của tôi, mà cả hai đều có nhiều kinh nghiệm trong điều trị và phân tích bệnh rối loạn tâm thần, đã cùng tôi quyết định thành lập một phòng khám ngoại trú ở UCLA chuyên chẩn đoán và điều trị bệnh trầm cảm và hưng – trầm cảm. Chúng tôi đã thu được nguồn tài trợ ban đầu của phòng khám, đủ để thuê một y tá và mua một vài chiếc tủ đựng hồ sơ. Tôi cùng bác sỹ trưởng của phòng khám đã dành nhiều tuần để soạn thảo các quy định về chẩn đoán, phân tích và vạch ra chương trình giảng dạy, theo đó các bác sỹ tâm thần năm thứ ba của phòng khám nội trú và thực tập sinh tiến sĩ tâm lý phải luân phiên nhau ra làm việc tại phòng khám ngoại trú, coi đó như một chương trình trao đổi kinh nghiệm. Mặc dù có một số ý kiến phản đối việc tôi không phải là bác sỹ điều trị lại được cử làm giám đốc phòng khám ngoại trú, nhưng hầu như nhân viên trong phòng khám nội trú, nhất là bác sỹ trưởng, chủ nhiệm khoa tâm thần và chánh văn phòng của Viện Tính năng thần kinh, ủng hộ tôi vào chức vụ này.

Chỉ trong vòng vài năm, Bệnh xá ngoại trú về rối loạn xúc cảm UCLA đã trở thành một nền tảng giảng dạy và phân tích lớn. Chúng tôi đã chẩn đoán và điều trị hàng nghìn người bệnh rối loạn tâm thần, thực hiện hàng loạt công trình phân tích về y học và tâm lý, và giảng dạy cho các bác sỹ tâm thần nội trú và các thực tập sinh về phương pháp chẩn đoán và chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần. Bệnh xá ngoại trú trở thành một trung tâm huấn luyện được nhiều người lựa chọn. Này là nơi lúc nào cũng sôi động, bận rộn, cấp cứu – và khủng hoảng – do tính chất và mức độ nghiêm trọng của loại bệnh đang được điều trị, nhưng đó cũng là nơi thường ấm cúng và tràn ngập tiếng cười. Tôi và bác sỹ trưởng không chỉ khuyến khích mọi người làm việc chăm chỉ và làm thêm giờ, mà còn khuyến khích cả những cuộc tụ hội chơi bời sau giờ làm việc. Sức ép điều trị các người bệnh muốn tự tử, loạn thần kinh và có xu thế bạo lực là rất lớn so với toàn bộ chúng tôi, nên chúng tôi luôn nỗ lực trợ giúp các bác sỹ nội trú và thực tập sinh bằng cách giám sát và theo dõi đến mức cao nhất có thể. Khi xảy ra những sự cố ít khi xảy ra – ví dụ một luật sư trẻ, rất thông minh từ chối mọi nỗ lực mang anh ta vào viện, rồi sau đó tự sát bằng cách tự bắn vào đầu thì các giáo viên, bác sỹ và thực tập sinh sẽ họp lại theo từng nhóm nhỏ hoặc lớn, để làm rõ những gì đã xảy ra và tìm cách trợ giúp không chỉ gia đình nạn nhân, mà cả những người phụ trách chính trong việc điều trị người bệnh đó. Bởi vì trong trường hợp này, bác sỹ điều trị đã làm toàn bộ những gì có thể cho người bệnh và không có gì đáng ngạc nhiên khi cô bác sỹ điều trị vô cùng hoảng sợ trước chết chóc của người bệnh. Điều nghịch lý là chính các bác sỹ thành thục và tận tâm như vậy lại thường là những người có cảm nghĩ thất bại và đớn đau nhất trong những trường hợp như vậy.

Chúng tôi coi trọng việc phối hợp giữa điều trị bằng thuốc với liệu pháp tâm lý, chứ không phải chỉ đơn thuần điều trị bằng thuốc và coi trọng việc hướng dẫn về bệnh và phương pháp điều trị cho người bệnh và gia đình họ. Những kinh nghiệm của chính bản thân mình với tư cách một người bệnh đã hỗ trợ tôi hiểu rất rõ tầm trọng yếu sống còn của liệu pháp tâm lý trong việc giúp người bệnh, vượt qua nỗi đau, tiếp tục cuộc sống để có thể hồi phục và điều hoà giữa sự chán ghét thuốc với những hậu quả kinh khủng của việc không chịu uống thuốc. Ngoài nhiệm vụ cơ bản là hướng dẫn các phương pháp chẩn đoán khác, tâm thần dược học và các khía cạnh khác trong điều trị bệnh rối loạn tâm thần, phần lớn công tác huấn luyện, điều trị và phân tích của Bệnh xá ngoại trú tập trung vào những nội dung chính sau: Vì sao người bệnh kháng cự hoặc không chịu uống Lithi hoặc các loại thuốc theo đơn khác; Người bệnh có xu thế muốn tự tử, vậy bằng cách nào để có thể làm dịu tình trạng này; Vai trò của liệu pháp tâm lý trong việc tạo ra kết quả lâu dài trong điều trị bệnh trầm cảm và hưng–trầm cảm; Những khía cạnh tích cực của bệnh này trong thời kỳ điên nhẹ, như giàu sinh lực, nhận ra nhanh, linh hoạt, có những tư duy mới mẻ, tâm trạng hồ hởi, nhu cầu tình dục tăng, có tầm nhìn rộng và có những khát vọng mạnh mẽ. Tôi nỗ lực khuyến khích các bác sỹ điều trị nhận thấy rằng đây là một chứng bệnh có những lợi thế và bất lợi của nó và so với nhiều người bệnh, những điều say mê mà họ từng trải nghiệm là rất dễ gây nghiện và rất khó từ bỏ.

Để giúp bác sỹ điều trị và thực tập sinh hiểu được một phần ý nghĩ của người bệnh khi bị điện hoặc trầm cảm, chúng tôi khuyến khích họ đọc những điều do chính người bệnh viết ra, hay những bài báo do những người đã từng rối loạn tâm thần viết. Tôi cũng khởi đầu chương trình giảng dạy vào dịp Giáng sinh cho những người chăm sóc người bệnh tận nhà và nhân viên trong phòng khám về những bản nhạc do các nhạc sĩ đã từng mắc bệnh trầm cảm hay hưng – trầm cảm sáng tác. Những bài giảng không chính thức này đã trở thành nền tảng cho buổi hòa nhạc mà một người bạn của tôi, giáo sư nhạc của UCLA, và tôi phối hợp tổ chức sau đó, tại Hội những người yêu nhạc Los Angeles năm 1985. Để giúp dư luận hiểu rõ hơn về bệnh thần kinh, nhất là bệnh hưng – trầm cảm, chúng tôi đã gợi ý với giám đốc chấp hành của Hội những người yêu nhạc tổ chức một chương trình chuyên về cuộc sống và tác phẩm của các nhà soạn nhạc mắc bệnh này, trong đó có Robert Schumann, Hector Berlioz và Hugo Wolf. Các quan chức của Hội rất phấn khởi và đã thảo luận với chúng tôi một cách nhiệt tình và mang tính hợp tác. Tuy nhiên, điều không may là chỉ vài ngày sau, Trường Đại học California lại phát động một chiến dịch quản lý tài chính lớn, theo đó các giáo viên trong trường không được nhận tiền từ các nhà tài trợ tư nhân nữa. Kết quả là tôi phải tự trả 25.000 đôla, một khoản tiền mà bạn tôi nói là quá lớn cho những tấm vé hoà nhạc. Dù sao thì khán giả cũng kéo đến chật ních Hội trường Royce khổng lồ của UCLA và buổi hòa nhạc đã rất thành công. Này lại là sự mở màn cho một loạt chương trình hòa nhạc mà chúng tôi tổ chức tiếp theo trên khắp cả nước, kể cả buổi hòa nhạc chúng tôi thực hiện vài năm sau ở Trung tâm trình diễn văn nghệ John F. Kennedy ở thủ đô Washington. Đó cũng là nền tảng cho một loạt chương trình truyền hình trước nhất về đề tài bệnh hưng-trầm cảm và văn nghệ mà chúng tôi sản xuất sau đó.

Trong quá trình thành lập và điều hành phòng khám ngoại trú này, tôi đã may mắn thu được sự trợ giúp của ông chủ nhiệm bộ môn của tôi. Ông ủng hộ tôi làm giám đốc Bệnh xá ngoại trú, mặc dù tôi không phải là bác sỹ điều trị và hơn nữa ông biết tôi mắc bệnh hưng trầm cảm. Thay vì lấy nguyên nhân tôi mắc bệnh để giảm thiểu trách nhiệm giảng dạy và điều trị của tôi và sau thời điểm được đảm bảo rằng tôi đang được điều trị tâm lý liệu pháp rất tốt và bác sỹ trưởng của phòng khám ngoại trú biết rõ bệnh tình của tôi ông đã khuyến khích tôi sử dụng phòng khám để trải nghiệm và phát triển những biện pháp chữa trị tốt hơn và góp phần làm thay đổi nhận thức của dư luận về chứng bệnh này. Mặc dù ông không khi nào nói ra, nhưng tôi đoán rằng ông biết bệnh tình của tôi ngay từ lần trước nhất tôi bị điên nặng. Trưởng khoa của tôi biết chuyện của tôi và tôi tin rằng thông tin đó chắc rằng đã được chuyển lên cấp trên. Trong bất kì trường hợp nào, ông chủ nhiệm của tôi cũng khắc phục vấn đề theo đúng phép tắc y học. Lần trước nhất ông đề cập đến đề tài này bằng cách tiến đến bên tôi trong một cuộc họp, quàng tay qua người tôi và nói: “Tôi hiểu cô đang có một số vấn đề về tâm lý. Tôi rất lấy làm tiếc. Hãy cố gắng uống Lithi đều đặn”. Sau đó, ông thường xuyên hỏi tôi xem tình hình ra sao và nhắc nhở tôi uống thuốc điều độ. Ông là người thẳng thắn, tích cực trợ giúp người khác và chưa một lần nào gợi ý tôi ngừng hay giảm thiểu công việc ở phòng khám.

Tuy nhiên, tôi rất lo ngại việc công khai bệnh tình của mình với người khác. Cơn loạn thần kinh trước nhất của tôi xảy ra rất lâu trước khi tôi thu được giấy phép hành nghề của Hội đồng Xác minh y học California. Trong khoảng thời gian từ khi tôi khởi đầu uống Lithi đến khi tôi hoàn tất bài xác minh viết và xác minh vấn đáp ở Hội đồng, tôi phát xuất hiện nhiều sinh viên y khoa, thực tập sinh và bác sỹ điều trị tâm thần đã bị tước quyền tiếp tục học tập, vì mắc bệnh thần kinh. Ngày nay, tình trạng này đã giảm đi, hầu như các trường đại học và sau đại học đã khuyến khích những sinh viên bị bệnh đi điều trị, để sau đó có thể trở lại với công việc của mình ở phòng khám. Còn thời kỳ đó, trong những năm đầu làm giáo viên đại học ở UCLA, tôi luôn bị ám ảnh bởi mối lo sợ rằng nếu bệnh tình của tôi bị phát hiện và được giải trình tới một phòng khám hay hội đồng xác minh nào đó, tôi có thể bị yêu cầu từ bỏ công việc giảng dạy và điều trị của mình.

Tuy căng thẳng rất cao, nhưng nói chung là tôi yêu thích công việc của mình. Y học mang lại nhiều lối sống phong phú và thú vị, được đi lại nhiều, hầu như đồng nghiệp đều là những người tỉnh táo, thông minh và cùng quyết tâm vượt qua khó khăn để phối hợp giữa công tác điều trị thực tiễn với viết sách báo và giảng dạy. Những căng thẳng công việc đã làm nặng nề thêm những biến động tâm thần của tôi, cho dù đã dịu bớt, ngay cả khi tôi đang uống Lithi. Phải mất vài năm sau, mọi chuyện mới trở nên ổn định. Khi tôi khoẻ mạnh, này là thời dịp rộng mở để tôi viết, tư duy, khám cho người bệnh và giảng dạy. Còn khi ốm thì quả là kinh khủng: Mỗi lần như vậy có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Khi đó tôi treo tấm biển “MIỄN QUẤY RẦY” ra ngoài cửa, rồi ngồi nhìn chăm chăm mà vô vọng ra ngoài cửa sổ, ngủ, mưu toan tự tử hoặc ngồi nhìn con chuột bạch – vật kỷ niệm trong một cơn điên sắm sửa của tôi chạy lăng xăng quanh chiếc chuông nhỏ. Trong những dịp như vậy, tôi không thể hình dung ra điều gì để viết và cũng không đủ khả năng lĩnh hội được một bài báo nào mà tôi nỗ lực đọc. Còn việc giám sát thực tập sinh hay giảng dạy thì quả là quá sức.

Tuy nhiên, có một sự bù đắp giống như thủy triều. Khi bị trầm cảm, tôi chẳng lĩnh hội được gì, nhưng cũng không bị mất đi những tri thức vốn có. Khi bị điện nhẹ, tôi có thể hoàn thiện một nội dung chỉ trong một ngày, ý tưởng cứ thế tràn tới và tôi có thể hoạch định các chương trình phân tích mới, nắm bắt nhanh kết quả điều trị người bệnh và khắc phục hàng tá công việc hành chính của một giám đốc phòng khám. Giống như mọi thứ trong cuộc sống, những điều tồi tệ luôn được bù đắp bằng những điều tốt đẹp và những điều tốt đẹp đến lượt nó lại bị những điều tồi tệ chen lấn. Này là một cuộc sống điên khùng, nhưng mãnh liệt, một sự pha trộn của những điều tuyệt vời, kinh khủng, tệ hại, vô cùng khó khăn, vinh quang, đơn giản, phức tạp, vui vẻ và những cơn ác mộng không khi nào chấm hết.

Thật may là tôi có những người bạn của tôi, có thể là họ cũng hơi điên khùng một tí, hoặc họ có lòng khoan dung rộng lượng rất cao, họ sẵn sàng tha thứ cho những thay đổi vốn đã trở thành nền tảng tâm lý của tôi. Tôi đã dành rất nhiều thời gian cho họ trong những năm làm trợ giảng. Tôi cũng đi rất nhiều, cả vì công việc lẫn đi chơi, và chơi bóng với thực tập sinh, đồng bọn và đồng nghiệp. Tuy nhiên, thể thao chỉ vui vẻ khi Lithi cho phép tôi điều phối được hành động của mình. Điều này không chỉ đúng với môn bóng, mà cả với môn cưỡi ngựa nữa. Cuối cùng tôi đã phải từ bỏ môn cưỡi ngựa trong vài năm, sau thời điểm bị ngã quá nhiều lần trong một lần lên ngựa. Nay khi nhìn lại, tôi thấy điều đó cũng không có gì quá tệ hại. Tuy nhiên, quả thật là mỗi khi phải từ bỏ môn thể thao nào đó, tôi không phải chỉ từ bỏ những vui thú mà môn thể thao ấy mang lại, mà phải từ bỏ cả một phần cuộc sống của mình như là một vận khuyến khích. Bệnh hưng – trầm cảm đã buộc tôi phải đương đầu với nhiều khía cạnh của tuổi già – cả về thể lực lẫn tâm thần – hàng chục năm trước tuổi của mình.

Cuộc sống lao đi thật nhanh, với những xung khắc xô đập nhau mạnh mẽ để tranh giành vị trí và tác động của nó. Khi tôi điên, nhịp sống như chậm lại, khi tôi bình thường, sự điên cuồng trong người được kiềm chế; còn khi suy sụp thì mọi vận động trong tôi hầu hết ngừng lại. Ngoài bác sỹ tâm thần của tôi ra, không có ai để tôi có thể giãi bày những khó khăn mà tôi đang phải đương đầu. Cũng có thể có ai đó nhưng tôi chưa khi nào dám thử. Ngoài tôi ra, hầu như không có một phụ nữ nào khác trong khoa tâm thần người lớn. Có phụ nữ trong phòng ban tâm thần, nhưng họ tập trung hết trong khoa trẻ em. Họ hay trốn tránh, vả lại họ cũng từng có quá nhiều chuyện trong khoa của mình rồi. Mặc dù hầu như các đồng nghiệp nam của tôi là công bình, và nhiều người rất sẵn lòng trợ giúp, nhưng một số người vẫn cho rằng phụ nữ cần phải được kiểm nghiệm trước khi có thể tin cậy họ.

Ông Hàu (Oyster) là một người như vậy. Ông ta được đặt cho tên gọi ấy vì sự lươn lẹo và bản chất trơn tuột của ông ta. Ông Hàu là một giáo sư thượng hạng. Ông ta kẻ cả, đỏm dáng và có toàn bộ sự phức tạp về trí tuệ và tâm lý mà người ta có thể nghĩ tới ở loài thân mềm. Ông ta nhận xét phụ nữ qua bộ ngực, chứ không phải bằng trí tuệ của họ và điều làm cho ông ta phải phát cáu là hầu như phụ nữ có cả hai thứ đó. Ông ta cũng cho rằng thật là sai lầm khi phụ nữ lạc vào giới phân tích y học và tôi là người luôn làm cho ông ta khó chịu. Chúng tôi cùng là thành viên trong Ủy ban Tuyển nhân viên và Bổ nhiệm nhân viên trong khoa. Tôi là phụ nữ duy nhất trong Ủy ban có 18 thành viên này. Vào những dịp ông ta tới dự cuộc họp của Ủy ban- ông Hàu nổi tiếng là người kiếm được nhiều tiền nhất trong quỹ thời gian ông ta dành cho phòng khám ít nhất- tôi luôn tìm cách ngồi đối mặt với ông Hàu để được chứng kiến những thất bại của ông ta.

Tôi luôn có cảm nghĩ rằng ông ta nghĩ tôi là một cái gì đó hơi đột biến, bởi vì tôi không khi nào tìm cách tránh né, cho dù tôi không được bảo vệ bằng cuộc sống hôn phối. Về phần mình, thỉnh thoảng tôi cũng chúc mừng ông ta, vì đã nỗ lực để tuyển nhân viên thêm phụ nữ vào trong khoa. Ông ta không khôn ngoan, không có khả năng khôi hài và cũng chưa khi nào nỗ lực hóm hỉnh. Thỉnh thoảng ông ta liếc nhìn về phía tôi một cách nghi ngờ và nhếch mép cười khó chịu. Ngoại trừ việc ông ta là người có thực quyền ở trong khoa ra, ông ta chỉ là một chàng ngốc dễ thương. Ông ta bô bô nói rõ ý kiến của mình về phụ nữ ở mọi nơi. Những lời gợi ý tình dục của ông ta thật kinh tởm, còn thái độ kể cả của ông ta mỗi khi trò chuyện với tôi hay với các nữ thực tập sinh hoặc nữ bác sỹ trong khoa thì quả là khó chịu. Xét dưới nhiều góc độ, ông ta giống như một bức tranh biếm họa của chính mình. Là nữ nhân viên dưới quyền ông ta cũng giống với phải xuất phát chậm mười giây trong cuộc đua 100 mét vậy. Thật may là việc bổ nhiệm và đề bạt giáo viên thường xuyên ở trường đại học đã có cơ chế kiểm tra và thăng bằng lẫn nhau và hệ thống này khá công bình, tối thiểu cũng là ở hai trường đại học mà tôi biết rõ nhất Trường Đại học California và Johns Hopkins. Tất nhiên là những người như ông Hàu thì chẳng khi nào làm cho hệ thống ấy vận hành một cách trơn tru được.

Sau khoảng thời gian vất vả lần mò trong mê cung của nghề nghiệp, cuối cùng tôi cũng thu được thư của Hội đồng quản trị thông báo tôi được nâng bậc, trở thành thành viên vĩnh viễn của Hiệp hội các giáo sư. Tôi ăn mừng sự kiện này trong vài tuần. Một trong những người bạn tốt nhất của tôi đã tổ chức một buổi tiệc tối rất thân mật cho khoảng ba mươi người, trong một đêm đẹp trời của California. Tối hôm đó, lan can trong vườn nhà chị phủ đầy hoa và nến. Quả là không thể đẹp hơn thế. Gia đình tôi đóng góp sâm banh và tặng tôi luôn cả bộ ly Baccarat để uống sâm banh nữa. Này là khoảnh khắc tuyệt vời so với tôi. Hơn ai hết, gia đình và đồng bọn tôi hiểu rằng đây là buổi tiệc mừng sau nhiều năm tôi vật lộn với bệnh thần kinh nghiêm trọng và vượt qua một nấc thang nữa trên đoạn đường học vị.

Tuy nhiên, tôi chỉ thực sự thấm thía việc được nâng bậc khi một người bạn của tôi, một thành viên trong Câu lạc bộ Bohemian chỉ toàn nam giới, tới nhà tôi cùng với một vài chai rượu vang dành riêng cho câu lạc bộ của anh. “Xin chúc mừng giáo sư”, anh ta nói và mang cho tôi chai rượu, “Hoan nghênh bà vào câu lạc bộ chỉ toàn có nam giới.”

PHẦN III

TÌNH YÊU, THUỐC CHỮA TRỊ

Một sỹ quan và một chàng trai lịch thiệp

 

Đã có thời điểm tôi thực sự tin rằng mỗi người chỉ phải trải qua một mức độ đớn đau nhất định trong cuộc sống. Vì bệnh hưng – trầm cảm đã mang đến cho tôi biết bao khổ sở và bất ổn mỗi khi nó giở chứng, nên tôi nghĩ rằng cuộc sống sẽ bù đắp cho tôi theo cách khác. Tuy nhiên, khi đó tôi lại cũng tin rằng tôi vẫn có thể cất cánh trong khung trời đầy sao và lượn theo chiếc vành đẹp đẽ của Sao Thổ. Tư duy của tôi hình như vẫn chỉ là một cái gì đó có tính ước nguyện. Còn Robert Lowell, tuy hay điên nhưng ít khi xuẩn ngốc, thì lại biết cách tận hưởng những giây phút hạnh phúc ngắn cuối đường hầm, thì này là ánh sáng của đoàn tàu điện ngầm đang tới.

Đã có thời điểm – nhờ Lithi, nhờ thời gian qua đi và nhờ tình yêu của một người đàn ông Anh cao và đẹp trai – tôi đã lờ mờ hình dung ra tia sáng ở cuối đường hầm và tôi cảm thu được rằng một cuộc sống ấm cúng và được bảo đảm đương trở lại.

Tôi biết rằng tâm hồn có thể được chữa lành một cách tuyệt vời nếu như có thời dịp và sự nhẫn nại, dịu dàng có thể chắp nối được những mảnh vỡ tan tành của toàn cầu lại với nhau. Chúa có thể phối hợp những nhân tố rời rạc, một bác sỹ tâm thần hạng nhất, cùng sự dịu dàng và tình yêu của một người đàn ông lại với nhau để làm cho mọi thứ trở lại bình thường.

Tôi gặp David ngay trong năm trước nhất làm giáo viên ở UCLA. Này là đầu năm 1975, sáu tháng sau thời điểm tôi bị điện năng và đầu óc tôi khi đó chỉ toàn những hình ảnh mờ ảo và mỏng manh về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Đầu óc tôi như trượt trên lớp băng mỏng, tính khí của tôi rất dễ nổi cáu, trong lúc cuộc sống thật của tôi đa số chỉ diễn ra trong một dải bóng tối dài và hẹp. Tuy nhiên, những hành động công khai của tôi lại nằm trong khuôn khổ bảo thủ bình thường, nhờ này mà xét về ngoại hình, mọi chuyện nói chung là ổn, tối thiểu cũng là so với sự nghiệp của tôi.

Hôm ấy, tôi mở cửa phòng làm việc cho các người bệnh nội trú, khác với mỗi khi tôi thấy khó chịu – nhưng không phải vì người bệnh, mà vì hôm đó có cuộc họp của nhân viên phòng khám. Trong cuộc họp ấy, các y tá có thể trút hết những bực dọc dồn nén lên các bác sỹ điều trị. Đến lượt mình, các bác sỹ lại bực tức bào chữa rằng họ có quyền quyết định cuối cùng và họ ở cấp cao hơn. Còn trưởng khoa thì bất lực, để cho sự oán giận, ghen tị và căm thù cá nhân bao trùm bầu không khí của cuộc họp. Trong khoa ấy, việc chăm sóc người bệnh thường bị đẩy lui lại phía sau, để nhường phần ưu tiên cho trận chiến không khoan nhượng và ích kỷ giữa các nhân viên. Lúc nào tôi cũng cố trì hoãn tới phút chót mới bước vào phòng họp, tìm một chiếc ghế ở xa khu chiến tuyến và ngồi xuống để chờ những điều khó chịu sắp xảy ra.

Tôi ngạc nhiên khi bác sỹ tâm thần của khoa bước vào phòng họp cùng với một người đàn ông cao và khá đẹp trai. Anh ta nhìn tôi, nở một nụ cười tuyệt vời. Anh là giáo sư thỉnh giảng và là bác sỹ tâm thần của Quân y Hoàng tộc Anh đang nghỉ phép. Chúng tôi hầu hết thích nhau ngay nhanh chóng. Chiều đó, chúng tôi cùng uống cà phê trong nhà ăn tự phục vụ của phòng khám. Tôi bỗng thấy mình cởi mở với anh tới mức, đã lâu lắm rồi, tôi không trò chuyện với ai thoải mái đến vậy. Anh nói năng nhỏ nhẹ, khá trầm lặng, suy tư và không ép quá mức tới tâm trạng vẫn chưa phục hồi hẳn của tôi. Cả hai chúng tôi cùng yêu thích âm nhạc và thơ. Chúng tôi cùng có những trải nghiệm trong cuộc sống nhà binh. Do tôi đã từng học ở Xcốtlen (Scotland) và Anh, nên chúng tôi cũng có nhiều kỷ niệm về những tp, phòng khám và miền quê ở Anh. Anh muốn tìm hiểu về sự khác biệt trong phương pháp điều trị tâm lý ở Mỹ và Anh, nên tôi giúp anh tìm hiểu một trong những người bệnh phức tạp nhất của tôi. Này là một cô gái bị tâm thần phân liệt, luôn tin rằng mình là một phù thủy. Anh nhanh chóng phát xuất hiện những vấn đề trong điều trị và liệu pháp tâm lý làm cho cô ta chậm thoát ra khỏi tâm trạng hoảng loạn của mình. Anh rất tốt bụng với cô và mặc dù về cơ bản, cô ta vẫn coi anh là bác sỹ, nhưng giống như tôi sau này – cô ta đã nhanh chóng cảm thấy rằng cô có thể hoàn toàn tin cậy ở anh. Anh thẳng thắn, nhưng chân tình và tôi thích thú được chứng kiến việc anh phân tách, rồi lại phân tách các thắc mắc để chinh phục niềm tin của cô và giúp cô thoát ra khỏi tính đa nghi của mình.

Những tháng David ở UCLA, chúng tôi hay ăn trưa với nhau, thường là ở trong vườn nhiệt đới của trường đại học. Anh nhiều lần mời tôi đi ăn tối và lần nào tôi cũng phải nói với anh rằng tôi không thể, vì tôi vẫn là một phụ nữ có chồng, lại đang sống cùng với chồng sau một thời gian chia tay. Anh trở lại Luân Đôn và mặc dù thỉnh thoảng chúng tôi vẫn viết thư cho nhau, nhưng tôi luôn ngập đầu với công việc giảng dạy, điều hành phòng khám, nâng cao chuyên môn và những vướng mắc trong cuộc sống hôn phối. Một trận điện tồi tệ khác lại ập tới, và như một lẽ đương nhiên, tiếp sau này là thời kỳ hoàn toàn suy sụp kéo dài.

Tôi và chồng tôi mặc dù vẫn là những người bạn tri kỷ và thỉnh thoảng vẫn gặp nhau, nhưng cuối cùng cũng phải quyết định rằng hôn phối của chúng tôi là không thể khôi phục được nữa. Sau khoảng thời gian tôi bị bỏ mặc trong lần điên trước nhất, tôi chưa khi nào nghĩ rằng hôn phối của chúng tôi có bất kì cơ may thực sự nào được cứu vãn. Tuy nhiên, cả hai chúng tôi đều đã cố thử nối lại. Chúng tôi trò chuyện với nhau rất nhiều, thảo luận về những sai lầm của chúng tôi và khả năng nối lại, trong những bữa ăn và bên những cốc rượu vang. Chúng tôi đã rất thiện chí và chăm Sóc lẫn nhau, nhưng không gì có thể nối lại hôn phối của chúng tôi, sau toàn bộ những gì đã xảy ra khi tôi mắc bệnh. Trong khoảng thời gian này, tôi viết thư cho David thông báo cho anh biết rằng cuối cùng tôi đã chia tay chồng. Cuộc sống cứ thế trôi đi, với những cuộc họp ở phòng khám, tiếp tục viết bài, khám cho người bệnh và giảng dạy cho các bác sỹ điều trị, thực tập sinh và sinh viên. Tôi vẫn nơm nớp lo sợ rằng người ta có thể phát xuất hiện tôi đã bị bệnh rất nặng và tâm trạng của tôi vẫn còn rất mong manh, nhưng thật kỳ cục và may mắn, nhạy cảm và khả năng xem xét tốt không phải khi nào cũng là một phẩm chất của các nhà tâm lý.

Thế rồi một hôm, hơn mười tám tháng kể từ khi David rời UCLA, tôi trở về phòng làm việc và thấy anh đang ngồi trên ghế của tôi, nghịch chiếc bút chì và cười rất tươi. Anh nói, nửa như cười: “Chắc chắn bây giờ thì em có thể đi ăn tối với anh được rồi. Anh đã chờ đợi quá lâu và phải đi một chặng đường quá dài vì nó”. Tất nhiên là tôi tán thành và chúng tôi đã có vài ngày tuyệt vời ở Los Angeles trước khi anh trở lại nước Anh. Anh rủ tôi sang Luân Đôn ở cùng anh vài tuần. Mặc dù tôi vẫn đang trong thời kỳ hồi phục sau đợt trầm cảm kéo dài, mà suýt dẫn tới tự tử, và tôi cũng vẫn còn lưỡng lự vì sợ thần kinh của tôi không chịu đựng nổi, nhưng không hiểu bằng cách nào đó tôi vẫn biết rằng được ở bên anh chắc sẽ tốt hơn cho tôi. Và quả thật nó rất tốt cho tôi. Chúng tôi đã có những buổi tối cuối xuân đi dạo cùng nhau rất lâu trong công viên St. James, ăn tối ở câu lạc bộ của anh nhìn xuống sông Thames và tổ chức những bữa ăn ngoài trời công viên Hyde gần nơi anh ở. Tình trạng suy. sụp, lo sợ và mất niềm tin trong tôi bỗng dần biến mất. Tôi lại khởi đầu thích thưởng thức âm nhạc và hội hoạ. Tôi đã cười trở lại và lại khởi đầu làm thơ. Tình cảm mãnh liệt trong những đêm dài và sáng sớm đã làm cho tôi lại tin vào, hay nhớ lại tầm trọng yếu của ý niệm sống để yêu và yêu để sống.

Ban ngày David làm việc ở phòng khám, nên tôi lại hoà mình vào Luân Đôn, nơi tôi đã từng gắn bó. Tôi lang thang đi bộ rất lâu trong công viên, đến thăm nhiều lần Tate, đi vòng quanh Victoria và Albert mà không nhằm mục đích gì cả, rồi tới Bảo tàng Tự nhiên và Bảo tàng Khoa học. Một hôm, theo gợi ý của David, tôi đi thuyền từ cảng Westminster tới Greenwich và trái lại. Một ngày khác, tôi đi tàu hoả tới Canterbury. Tôi đã không trở lại Canterbury trong nhiều năm và trước đó tôi chỉ thấy nó qua đôi mắt hơi điên, nhưng không thể nào quên được. Tôi đã có những ký ức kì ảo nhưng tồn tại rất lâu về những ô cửa kính sơn sẫm màu sặc sỡ, về những tiếng động ớn lạnh và khung cảnh mờ tối của nơi xảy ra vụ sát hại Becket, cùng những vệt nắng lướt trên nền nhà thờ. Lần này tuy tôi quỳ xuống trong trạng thái không bị ngất ngây, nhưng tôi không có niềm tin khi nguyện cầu và tôi có cảm nghĩ như một người xa lạ. Đó vẫn là cảm nghĩ về một Canterbury tĩnh lặng và dịu dàng mà tôi đã có.

Đúng lúc đang quỳ gối nguyện cầu, tôi chợt nhớ ra rằng tôi đã quên không uống Lithi tối ngày hôm trước. Tôi thò tay vào túi lấy thuốc, mở lọ thuốc ra và ngay nhanh chóng tôi đánh đổ toàn thể thuốc ra nền nhà thờ. Nền nhà thờ dơ bẩn, xung quanh có rất nhiều người và tôi vô cùng xấu hổ khi phải cúi xuống nhặt những viên thuốc. Không chỉ xấu hổ, đó cũng là lúc tôi nhận thấy rằng tôi sẽ phải đề xuất David kê cho tôi một đơn thuốc khác. Điều đó cũng có nghĩa là tôi sẽ buộc phải nói thật với David về bệnh tình của mình. Tôi không thể không cay đắng nghĩ rằng Chúa ít khi mở cánh cửa này ra mà không đóng cánh cửa khác lại. Tuy nhiên, tôi không thể không mua thuốc mới. Lần trước tôi không uống Lithi và ngay nhanh chóng đã bị điện trở lại. Tôi không thể sống tiếp một năm nữa như những gì tôi vừa mới trải qua.

Đêm đó, trước khi đi ngủ, tôi nói với David về bệnh hưng – trầm cảm của mình. Tôi lo sợ nghĩ tới phản ứng của anh và tự giận mình vì sao không nói với anh sớm hơn. Anh im lặng trong một khoảng thời gian rất dài và tôi đoán rằng anh đang tính tới những thúc đẩy, cả về у học lẫn con người, của những gì tôi vừa nói. Tôi không nghi ngờ rằng anh đã yêu tôi, nhưng giống như tôi, anh hiểu rõ những bất ổn mà chứng bệnh này gây ra. Anh là một sỹ quan quân đội, gia đình anh rất bảo thủ và anh khao khát có con, trong lúc hưng – trầm cảm lại là chứng bệnh có tính di truyền. Đó cũng là chứng bệnh người ta không dám nói ra, một chứng bệnh không thể dự đoán trước được và không ít trường hợp dẫn tới chết chóc. Ước gì tôi đã không nói với anh chuyện này, ước gì tôi là một người bình thường và ước gì tôi đang ở bất kỳ nơi nào đó trừ chỗ này. Tôi cảm thấy thật xuẩn ngốc khi kỳ vọng ai đó có thể đồng ý những gì tôi vừa nói và tôi sẵn sàng đồng ý một cuộc chia tay tinh tế và lịch sự. Dù sao thì chúng tôi cũng chưa thành thân và chúng tôi cũng chưa sống với nhau một cách nghiêm túc trong một thời gian dài.

Cuối cùng, khi sự im lặng kéo dài phải đến hồi kết thúc, David ôm lấy tôi và nói bằng một giọng nhỏ nhẹ: “Anh rất thông cảm với em”. Tôi nhẹ cả người và sững sờ trước sự thật hiển nhiên trong điều anh vừa nói. Này là sự thông cảm và cuối cùng cũng từng có người hiểu được tôi. Giữa lúc tâm hồn tôi đang dịu lại, thì một ốc đảo khôi hài nhỏ nhắn trong đầu tôi lại lĩnh hội những điều David nói theo một nghĩa khác, và tôi coi câu nói của anh như được rút ra từ một cuốn tiểu thuyết của P.G. Wodehouse vậy. Tôi nói với anh về điều này và nhắc anh nhớ lại nhân vật Wodehouse, người đã phàn nàn rằng mặc dù trên thực tiễn không phải là anh ta bất bình, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là anh ta ưng ý. Cả hai chúng tôi cùng cười rất lâu. Mặc dù trong tiếng cười ấy vẫn còn chứa đựng những âu lo, nhưng tảng băng đáng sợ giữa hai chúng tôi đã được phá vỡ.

David rất tốt bụng và sẵn sàng đồng ý. Anh hỏi tôi hết thắc mắc này đến thắc mắc khác về những gì tôi đã trải qua, điều gì là tệ hại nhất, tôi sợ nhất cái gì và anh có thể giúp gì cho tôi mỗi khi tôi bị bệnh. Sau cuộc trò chuyện ấy, mọi chuyện so với tôi hình như đơn giản hơn. Lần trước nhất tôi cảm thấy mình không đơn độc khi ứng phó với những nỗi đau và sự bất ổn của chứng bệnh này và tôi nhận thấy rõ ràng rằng anh thực sự muốn hiểu rõ chứng bệnh của tôi để có thể chăm sóc tôi. Và anh đã khởi đầu chăm sóc tôi ngay từ đêm đó. Tôi giải thích với anh rằng do tác dụng phụ ít khi xảy ra của Lithị so với cả thị lực lẫn khả năng tập trung, nên về cơ bản, tôi không thể đọc quá một, hai đoạn sách cùng. một lúc. Thế là anh đọc cho tôi nghe: anh đọc thơ, Wilkie Collins và Thomas Hardy, với một tay ôm tôi trên giường và thỉnh thoảng lại vuốt tóc tôi cứ như tôi là một đứa trẻ vậy. Từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, với sự nhẫn nại và tế nhị vô bờ, sự dịu dàng của anh cả niềm tin của anh vào tôi, tin vào tình trạng của tôi và tin vào nền tảng sức khoẻ của tôi – đã từng bước đẩy lùi nỗi lo sợ trong tôi về tâm trạng và bạo lực không thể dự đoán được.

Chắc nịch David biết rõ rằng tôi đã mất hết kỳ vọng trở lại cuộc sống bình thường, nên anh đã tìm cách trấn an và từng bước tạo dựng niềm tin trong tôi một cách có hệ thống. Tối ngày tiếp theo, khi trở về nhà, anh thông báo với tôi rằng anh đã mời hai sỹ quan cấp cao của Quân đội Anh, mà cả hai đều đã từng mắc chứng hưng – trầm cảm, tới ăn tối. Những buổi tối chúng tôi ở cùng với hai sỹ quan này và phu nhân của họ là không thể nào quên được. Một trong hai người là tướng. Ông lịch lãm, dịu dàng và rất thông minh. Sự tỉnh táo của ông là điều không phải tranh cãi. Ngoại trừ những dấu hiệu thiếu ngủ thỉnh thoảng xuất hiện trong đôi mắt và những nét u sầu nhẹ được khéo léo che đậy khi trò chuyện, ông rất giống với mẫu người năng động, tự tin và thoải mái mà người ta có thể bắt gặp trong các buổi tiệc lớn ở Luân Đôn hay Oxford, Viện sỹ quan kia cũng rất tuyệt vời, niềm nở, hóm hỉnh và giống như vị tướng, anh ta cũng hay nói “khiếp quá, khiếp quá” đặc giọng của tầng lớp thượng lưu. Đôi mắt của anh ta thỉnh thoảng cũng hiện lên những nét buồn. Tuy nhiên, anh là một người bạn tuyệt vời và nhiều năm sau vẫn là một người bạn thân thiện của chúng tôi.

Trong những bữa ăn tối, chúng tôi không khi nào đề cập tới bệnh hưng – trầm cảm và bầu không khí hoàn toàn bình thường của những buổi tối ấy đã làm cho tôi tin tưởng hơn và quả thật là rất trọng yếu so với tôi. Giới thiệu tôi với hai người đàn ông “bình thường”, mà cả hai cùng ở trong toàn cầu giống như tôi đã biết hồi nhỏ, chỉ là một trong rất nhiều việc làm tốt đẹp mà David đã dành cho tôi. Như Robert Louis Stevenson đã từng viết: “Trong lịch sử tốt bụng của loài người, chỉ cần một người cũng có thể làm cho thế giới trở nên đẹp đẽ hơn. Nếu không phải nhờ nó, nhờ tác động của những lời nói, cái nhìn và những lá thư ân cần… thì tôi buộc phải nghĩ rằng cuộc đời chúng ta chỉ là sự nhạo báng của thế giới tâm hồn tệ hại”. Từ khi biết David, tôi không khi nào nhìn cuộc sống từ góc độ tồi tệ nữa.

Tôi rời Luân Đôn với cảm nghĩ lo sợ, nhưng David đã thường xuyên viết thư và gọi điện cho tôi. Cuối mùa thu năm ấy, chúng tôi lại được sống cùng nhau ở Washington, và do tôi đã trở lại với chính mình, nên tôi đã sống theo đúng cách mà tôi không hề có trong nhiều năm. Những ngày tháng 11 năm ấy đã đọng lại trong trí nhớ của tôi như những vòng xoáy dịu dàng, nhưng mãnh liệt của những chuyến hành trình dạo rất lâu trong gió lạnh, tới thăm những ngôi nhà cổ, những nhà thờ cổ, những mảnh vườn từ thế kỷ 18 ở Annapolis được phủ một lớp tuyết mỏng và những dòng sông chảy ra Vịnh Chesapeake đã khởi đầu đóng băng. Tối đến, chúng tôi cùng ăn anh đào khô, ăn tối trên đường và nói với nhau mọi chuyện. Còn đêm đến, chúng tôi sống trong tình yêu tràn ngập và những giấc ngủ không hề bị quấy nhiễu, mà đã lâu lắm rồi tôi hằng mong ước nhưng không có được.

David trở lại Luân Đôn, tôi trở về Los Angeles, chúng tôi thường xuyên viết thư và trò chuyện với nhau, chúng tôi nhớ nhau và cùng lao vào công việc của riêng mình. Tháng 5, tôi trở lại Anh và chúng tôi đã có hai tuần cùng hưởng những ngày đầu hè ở Luân Đôn, Dorset và Devon. Một buổi sáng chủ nhật, sau lễ nguyện cầu ở nhà thờ, chúng tôi cùng leo lên đỉnh đồi để lắng nghe tiếng chuông nhà thờ. Tôi bỗng thấy David dừng lại, đứng như trời trồng và thở một cách khó nhọc. Anh nói đùa là vì đêm phải tập thể dục quá nhiều. Chúng tôi cùng cười và bỏ qua chuyện đó.

David được điều sang làm việc tại Bệnh xá của Quân đội Anh ở Hồng Công và anh vạch plan để tôi tới thăm anh ở đó. Anh thông báo cho tôi cụ thể plan mà anh đã dàn xếp cho các buổi tối của riêng chúng tôi, cho những cuộc gặp với ai và những buổi cắm trại ở những quần đảo gần đó. Tôi nóng lòng mong tới ngày được ở cùng anh. Nhưng rồi vào một buổi tối, không lâu trước ngày tôi dự kiến sang với anh, khi tôi đang ngồi ở nhà viết một chương cho cuốn sách giáo khoa thì có tiếng gõ cửa. Khi đó đã khá muộn và tôi không nghĩ lại có ai gõ cửa vào giờ ấy. Tôi đột nhiên nhớ tới lời mẹ tôi nói về nỗi khiếp đảm của các bà xã phi công mỗi khi cha tuyên uý gõ cửa. Tôi mở cửa và này là một công văn ngoại giao. Bức thư của viên sỹ quan lãnh đạo của David viết, trong lúc đi làm nhiệm vụ ở Cátmandu, David đã đột ngột từ trần vì bệnh tim. Khi đó anh 44 tuổi, còn tôi 32 tuổi.

Tôi hẫng người. Tôi nhớ là đã cố ngồi xuống, quay lại với công việc, viết một tí nữa rồi gọi điện cho mẹ tôi. Tôi cũng trò chuyện với bố mẹ của David và với viên sỹ quan lãnh đạo của anh. Ngay cả khi chúng tôi đang thảo luận về plan tang lễ, tôi vẫn không tin rằng anh đã chết. Tang lễ của David phải lui lại khá lâu, do quân đội yêu cầu phải khám nghiệm tử thi, trước khi thi thể của anh được mang về Anh. Tôi đã trải qua đủ loại xúc cảm trong cơn sốc ấy. Tôi mua vé máy cất cánh, lên giảng đường vào sáng ngày tiếp theo, triệu tập với cuộc họp với các nhân viên phòng khám, gia hạn hộ chiếu, xếp vội quần áo vào va li và cảnh giác gom toàn bộ những lá thư mà David đã viết cho tôi. Khi ngồi trên máy cất cánh, tôi máy móc xếp những lá thư của David theo thứ tự thời gian và quyết định sẽ đọc lại những lá thư này sau thời điểm tới Luân Đôn. Ngày ngày tiếp theo, khi ngồi trong công viên Hyde để đọc lại thư, tôi đã không thể đọc nổi một nửa lá thư trước nhất, tôi bật khóc và không kìm lại được. Cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn không đọc lại bất kì lá thư nào của anh nữa.

Tôi tới Harrods mua mũ đen cho buổi tang lễ, rồi sau đó ăn trưa với viên sỹ quan lãnh đạo của David tại câu lạc bộ của anh ta. Anh là bác sỹ trưởng về tâm thần của Quân đội Anh một con người tận tụy với công việc, tốt bụng, thẳng thắn và rất hiểu biết. Anh ta đã từng phải tiếp những phụ nữ có chồng đột ngột từ trần và hiểu nỗi lòng của họ, nhưng rõ ràng là anh ta đã sửng sốt khi biết tôi vẫn chưa khởi đầu quen với sự thật rằng David đã chết. Anh nói với tôi rất lâu về David, về những năm anh biết và làm việc cùng với David. Anh ta ca tụng David là một bác sỹ và một con người tuyệt vời. Anh ta nói với tôi rằng “có thể là rất khó khăn, nhưng cũng tốt” nếu anh ta đọc cho tôi nghe một đoạn giải trình khám nghiệm tử thi của David. Về ngoại hình, đây có vẻ như là nhằm thuyết phục tôi rằng bệnh nhồi máu cơ tim của David là không có cách gì chữa khỏi và sự can thiệp của y học cũng chẳng giúp ích được gì. Nhưng trên thực tiễn, rõ ràng là anh ta biết rằng những từ ngữ y học lạnh lùng sẽ gây sốc cho tôi và buộc tôi phải đương đầu với sự thật. Tuy nhiên, những cụ thể y học kinh khủng đã không mang tôi tiến gần hơn tới sự thật bao nhiêu. Thay vào đó, chính câu nói của viên thiếu tướng rằng “một sỹ quan trẻ đã áp tải thi thể của Đại tá Laurie trên chuyến bay của Không quân Hoàng gia Anh từ Hồng Công về sân bay Brize Norton” lại mang tôi trở về với thực tiễn. David không đang là Đại tá Laurie nữa, không đang là Bác sỹ Laurie nữa, mà chỉ đang là một thi thể.

Quân đội Anh đã rất tốt với tôi. Theo cách hiểu của quân đội, hy sinh, nhất là chết chóc ngạc nhiên, về cơ bản đã được xác nhận trước. Vì vậy, nghi thức tang lễ của quân đội tự nó muốn nói lên rằng này là kết cục đã được dự đoán, an ủi thân nhân, ca tụng người nằm xuống và mang đầy tính tôn giáo. Bạn thân và các sỹ quan đồng đội của David rất thẳng thắn, hóm hỉnh, thực tiễn và đầy lòng thương cảm. Họ nói rằng họ tin tôi sẽ vượt qua toàn bộ, nhưng họ cũng vẫn làm toàn bộ những gì có thể để giúp tôi xoa dịu bớt nỗi buồn kinh khủng này. Họ không khi nào để tôi một mình, nhưng cũng không khi nào lảng vảng gần đó, họ mang anh đào và rượu uytxki đến cho tôi và tư vấn pháp lý cho tôi. Họ thường xuyên nói về David, một cách công khai và khôi hài, làm cho tôi không còn nhiều thời dịp để buồn phiền.

Khi cử hành tang lễ, viên thiếu tướng cứ nằng nặc đòi tôi cùng hát những bài thánh ca. Anh ta ôm lấy tôi trong suốt khoảng thời gian đặc biệt khó khăn này. Anh ta cười toáng lên khi tôi nói nhỏ vào tai anh ta – giữa lúc các sỹ quan và các quý ông đang ca tụng David – rằng ước gì tôi cũng có thể đứng lên tuyên bố với mọi người rằng David cũng rất tuyệt vời trên giường ngủ. Bỏ mặc nỗi khiếp đảm của tôi trước việc một người đàn ông cao gần 1,9 mét biến thành một hộp tro nhỏ và bỏ mặc việc tôi muốn lùi lại phía sau cách xa ngôi mộ của anh, anh ta vẫn đẩy tôi lên phía trước để tôi tận mắt chứng kiến, để tôi nhận tro và tin rằng mọi chuyện đã kết thúc.

Tôi dành khoảng thời gian sót lại ở Anh với đồng bọn và dần dần, tôi khởi đầu hiểu được rằng tương lai mà tôi trông đợi, tình yêu và sự trợ giúp mà tôi phụ thuộc vào, đã không còn tiếp. Tôi nhớ lại hàng nghìn chuyện liên quan tới David, với biết bao tiếc nuối về những thời dịp bị bỏ lỡ, về những cuộc cãi vã tệ hại không thiết yếu và tôi hiểu rằng không gì có thể làm thay đổi thực tiễn được nữa. Biết bao ước mong đã bị mất: mọi plan của chúng tôi về một gia đình tràn trề tiếng trẻ; và mọi thứ hình như trong tầm tay, đã tiêu tan. Rất thống khổ, nhưng thật may là nó hoàn toàn khác với sự suy sụp. Buồn, kinh khủng, nhưng không vô vọng. Chết chóc của David đã không ném tôi vào bóng đêm không chịu đựng nổi và ý nghĩ tự tử không hề lướt qua trong đầu tôi. Tôi đã được an ủi rất nhiều nhờ sự bù đắp và lòng tốt vô bờ của đồng bọn, gia đình và cả những người xa lạ nữa. Ví dụ, hôm tôi rời Anh để trở về Mỹ, nhân viên làm thủ tục lên máy cất cánh của Hãng hàng không Anh đã hỏi tôi đến Anh vì công việc hay đi nghỉ. Mọi sự điềm tĩnh mà tôi cố giữ trong gần hai tuần qua đột nhiên vỡ ra. Tôi giải thích, qua hai hàng nước mắt, mục đích chuyến hành trình của mình và nhân viên ấy đã ngay nhanh chóng nâng hạng ghế cho tôi và xếp tôi vào vị trí để tôi có thể riêng tư nhất. Hình như David đã báo trước cho các nhân viên phục vụ trên máy cất cánh, vì họ rất tốt bụng, quan tâm đến tôi hơn bình thường và để cho tôi được tự do với tư duy của mình. Từ ngày đó, khi có thể, tôi luôn cất cánh với Hãng hàng không Anh. Và mỗi lần như vậy, tôi lại nhớ tới những cử chỉ tốt bụng nho nhỏ.

Tôi trở về nhà, trở về với một núi công việc mà nói chung là tốt cho tôi, và rất não lòng khi trở về với cả một vài lá thư của David được chuyển tới khi tôi đi vắng nữa. Trong những ngày sau đó, tôi còn thu được hai lá thư khác nữa của David bị chuyển chậm, và cuối cùng những lá thư như vậy đương nhiên không tới nữa. Theo thời gian, cú sốc về chết chóc của David cuối cùng cũng nguôi ngoai. Vài năm sau chết chóc của David, tôi được người ta yêu cầu nói về chuyện này. Tôi kết thúc buổi trò chuyện bằng một bài thơ của Edna St. Vincent Millay:

Thời gian không thể giúp nguôi ngoai; Thế là anh nói dối.

Ai nói nỗi đau sẽ dịu đi theo tháng ngày bận rộn!

Tôi nhớ anh trong từng tiếng mưa rơi. 

Vẫn muốn có anh khi thủy triều rút nước. 

Tuyết năm ngoái khởi đầu tan trên sườn núi, 

Và những chiếc lá cũ đã tàn rũa bên đường, 

Nhưng nỗi đắng cay vẫn còn nguyên đó 

Chồng chất trong tim em, nỗi đau vẫn nhói. 

Biết bao nơi em không dám tới, 

Chỉ vì nơi đó vẫn còn nguyên vết tích của anh, Rồi em tới một nơi tĩnh lặng, 

Nơi anh chưa từng đến khi nào 

Em nghĩ nó sẽ không gợi nhớ đến anh 

Nhưng em sững sờ,

Bởi nỗi nhớ anh bỗng ào ào tràn tới

Thời gian cuối cùng cũng làm dịu nỗi đau. Tuy nhiên, nó cũng bắt người ta phải trả giá, không thoải mái chút nào. Thời gian là vậy.

Họ nói với anh rằng trời đã đổ mưa

Trong suốt vài năm sau đó, nỗi đau và sự bất ổn từ chết chóc của David và từ chứng bệnh của chính mình đã làm giảm rất nhiều kỳ vọng của tôi về cuộc sống. Tôi co mình lại và chủ tâm không mở cửa với toàn cầu bên ngoài nếu như không thiết yếu. Tôi lao vào công việc. Điều hành phòng khám, giảng dạy, phân tích và viết sách không thể thay thế được tình yêu, nhưng nó cũng tương đối thú vị và làm cho cuộc sống vừa bị phá vỡ của tôi có một tí ý nghĩa nào đó. Sau khoảng thời gian đã biết tới những hậu quả tệ hại của việc uống rồi lại ngừng uống Lithi, nay tôi đã tự giác uống thuốc điều độ và tôi phát xuất hiện rằng cuộc sống là có thể dự đoán được và ổn định hơn nhiều so với trước kia tôi vẫn nghĩ. Tâm trạng của tôi vẫn còn stress và tính khí của tôi vẫn rất dễ bị kích động, nhưng nay tôi đã có thể vạch ra những plan ổn định hơn nhiều và những cơn suy sụp nay đã thưa hơn và ít nghiêm trọng hơn.

Dù thế, tâm hồn tôi vẫn chưa lành. Trong suốt tám năm kể từ khi trở thành giáo viên đại học, bỏ mặc những tháng tôi bị điện và suy sụp kéo dài, việc tôi mưu toan tự tử và chết chóc của David. tôi chưa khi nào phải từ chức quá lâu, hay phải rời khỏi Los Angeles để chữa trị, hay che giấu nỗi đau kinh khủng của mình. Vì vậy, tận dụng một trong những đặc ân cao của giáo sư, tôi quyết định đi nghỉ phép năm kết phù hợp với phân tích ở Anh. Giống như ở St. Andrews nhiều năm trước đó, chuyến hành trình ấy mang lại cho tôi khoảng thời gian nghỉ ngơi tuyệt vời và thoải mái. Tình yêu, khoảng thời gian dài cho chính mình và cuộc sống tuyệt vời ở Luân Đôn và Oxford đã tạo điều kiện cho cả tâm hồn và trí tuệ tôi dần hàn gắn lại hầu như những mảnh vỡ trước đó.

Nguyên nhân học thuật để tôi tới Anh là phân tích về hiện tượng rối loạn tâm thần ở các nghệ sỹ và nhà văn nổi tiếng của Anh và để viết một cuốn sách giáo khoa về bệnh hưng – trầm cảm mà tôi đang viết cùng với một đồng nghiệp. Thời gian của tôi được chia cho công việc ở Trường Y Bệnh xá St. George ở Luân Đôn và Trường Đại học Oxford. Này là hai nơi khác hoàn toàn nhau, mỗi nơi tuyệt vời theo một cách. St. George là một phòng khám kết phù hợp với giảng dạy lớn, nằm giữa một trong những vùng nghèo nhất của ngoại ô Luân Đôn. Này là nơi sôi động và dễ thương, rất phù phù hợp với một phòng khám kết phù hợp với giảng dạy. Nó có lịch sử tồn tại 250 năm và này là nơi Edward Jenner, bác sỹ phẫu thuật lỗi lạc John Hunter, cùng với rất nhiều bác sỹ và nhà khoa học nổi tiếng khác trong lịch sử y học đã từng làm việc. Bệnh xá này là nơi yên nghỉ cuối cùng của con bò Blossom, con bò mà Jenner đã từng sử dụng để phân tích thử nghiệm vắcxin đậu mùa. Bộ da ghẻ lở mà vĩ đại của con bò ấy vẫn được treo trong tủ kính ở thư viện của trường y. Lần trước nhất nhìn thấy nó từ xa và khi không đeo kính, tôi nghĩ này là một bức tranh kỳ quặc, nhưng mê hoặc nhờ chính vẻ kỳ cục của nó. Tôi vui sướng khi biết đó chính là bộ da bò, nhưng không phải của con bò bình thường, mà là một con bò nổi tiếng trong giới y học. Có một cái gì đó thật tuyệt vời mỗi khi làm việc gần Blossom và tôi đã có nhiều giờ ở gần đó, làm việc, tư duy về công việc và thỉnh thoảng nhìn lên bộ da nhiều màu sắc và quyến rũ của nó.

Oxford lại hoàn toàn khác. Tôi là hội viên phân tích thượng hạng của Trường đại học Merton, một trong ba trường đại học trước nhất của Oxford được thành lập từ thế kỷ 13. Nhà thờ của trường Merton cũng được xây dựng cùng thời gian này và một số ô cửa kính sơn rất đẹp của nhà thờ có thời đại từ ngày đó. Thư viện của trường, được xây dựng một thế kỷ sau đó, là một trong những thư viện Trung cổ đẹp nhất của Anh. Đây cũng là thư viện trước nhất xếp sách đứng trên giá, thay vì để nằm trong những chiếc hòm. Bộ sưu tập những cuốn sách in trước nhất nghe nói phải chật vật lắm mới mang được vào thư viện, bởi vì trường này tin rằng sách in chỉ là một loại mốt nhất thời và không thể thay thế được cho những bản viết tay. Một số niềm tin khác thường kiểu ấy – bỏ mặc những thực tiễn của thời hiện đại hay tương lai sắp đến gần – vẫn hiện hữu trong trường, trong sự sáng tạo, phong phú, bực mình hay thoải mái, tuỳ theo tâm trạng và hoàn cảnh khác nhau.

Tôi sống trong một căn hộ nhiều phòng tuyệt đẹp của Merton, nhìn xuống sân chơi. Tôi đọc (mặc dù vẫn còn khó khăn) và viết trong bầu không khí hoàn toàn tĩnh lặng, chỉ bị phá vỡ khi nhân viên phục vụ của trường mang cà phê, vào buổi sáng, và trà, vào buổi chiều, đến cho tôi. Bữa trưa khi nào tôi cũng ăn lẫn các đồng nghiệp thượng hạng, này là điều rất thú vị, nhất là khi có đủ mặt các giáo sư và giáo viên thượng hạng thuộc đủ các khoa trong trường. Ở đó có đủ các nhà sử học, toán học, triết học và văn học. Mỗi khi có dịp ngồi cạnh ông Alister Hardy, một nhà sinh vật biển, một con người tuyệt vời và rất có khiếu kể chuyện, tôi lại được nghe ông nói hàng tiếng đồng hồ về chương trình khoa học tìm tòi Nam cực trước đó của ông, và thảo luận về công trình phân tích hiện tại của ông về bản chất của đức tin tôn giáo. Chúng tôi cũng rất quan tâm tới William James và bản chất của trạng thái mê li (ecstasy). Ông liên tục nhảy từ ngành nghề này sang ngành nghề khác, từ văn học tới sinh học và thần học, mà chẳng khó khăn gì.

Merton không chỉ là trường cổ nhất và giầu nhất trong hệ thống của Trường Đại học Oxford, mà nó còn tự hào là nơi có đồ ăn ngon nhất và có hầm rượu vang tốt nhất nữa. Vì vậy, tôi thường tới dự những buổi tiệc tối của Trường Oxford. Này là những buổi tối giống như những buổi tối từng có rất lâu trong quá khứ: người ta nhấm nháp một tí rượu anh đào và trò chuyện với các giáo viên của trường, trước khi bữa tối khởi đầu, mọi người lần lượt tiến vào phòng ăn cổ kính và đẹp đẽ; các sinh viên nữ trong bộ áo dài đen kiễng chân chào khi các giáo viên bước vào. Cả giáo viên lẫn sinh viên cùng cúi đầu nguyện cầu bằng tiếng Latinh, rồi toàn bộ cùng đợi ông hiệu trưởng ngồi xuống. Nhưng chỉ ngay sau này là những tiếng ầm ĩ của sinh viên tranh nhau ghế, cười nói và la hét từ bàn nọ sang bàn kia.

Ở bàn trên, các cuộc thảo luận và sự kích động được kiềm chế hơn. Lúc nào đó cũng là những cuộc trao đổi kiểu Oxford cổ, thường là thông minh, vui vẻ, nhưng thỉnh thoảng cũng khó chịu. Những món ăn tuyệt vời và những loại rượu vang hảo hạng được liệt kê trên bảng thực đơn trang trí phức tạp và trang nhã. Chúng tôi rời phòng ăn lớn, bước vào phòng ăn nhỏ hơn, riêng tư hơn, để cùng hiệu trưởng và các đồng nghiệp uống rượu brandi và rượu vang đỏ, ăn hoa quả và mứt gừng. Tôi nghĩ người ta khó có thể làm nổi bất kì việc gì sau những buổi tiệc tối như vậy, nhưng hầu như các giáo viên của trường Oxford mà tôi gặp đều viết tối thiểu bốn cuốn sách khác nhau về một đề tài nào đó. Vì vậy, có vẻ họ đã may mắn có được, hoặc đã tập luyện được, những lá gan và bộ óc khác người. Còn về phần mình, rượu brandi và rượu vang đỏ đã làm tôi chính choáng. Sau khoảng thời gian lên chuyến tàu cuối cùng về Luân Đôn, tôi chỉ còn tồn tại thể ngồi nhìn đăm đăm vào màn đêm qua cửa sổ, thả mình hàng tiếng đồng hồ vào những thế kỷ khác và hạnh phúc chìm đi giữa những toàn cầu và kỷ nguyên khác nhau.

Mặc dù tôi tới Oxford vài lần mỗi tuần, nhưng cuộc sống của tôi tập trung đa số ở Luân Đôn. Tôi dành nhiều thời gian thả bộ trong những công viên và thăm viện bảo tàng, còn trong những ngày nghỉ cuối tuần tôi thường cùng đồng bọn tới Đông Sussex, đi men theo những quả đồi nhìn xuống eo biển Măngsợ. Tôi lại tập cưỡi ngựa. Những cảm nhận tuyệt vời về cuộc sống và sự sống hình như đã trở lại với tôi mỗi khi tôi cưỡi ngựa xuyên qua màn sương sớm ở công viên Hyde vào những buổi sáng cuối thu se lạnh, hay khi phi nước đại xuyên qua những cánh rừng sồi và vượt qua các trang trại ở vùng nông thôn Somerset. Tôi đã quên mất cảm nghĩ thả mình trong gió, mưa và cảnh đẹp trước đó, nhưng tôi vẫn cảm thu được cuộc sống đang trở lại với thể xác và tâm hồn, mà từ lâu đã chết hay ngủ đông trong tôi.

Một năm ở Anh đã hỗ trợ tôi nhận thấy rằng trước đó tôi chỉ vật lộn và đương đầu với cuộc sống và tìm cách tránh né những nỗi đau, chứ không can hệ tích cực vào chúng để tìm lối thoát cho cuộc sống. Thời cơ giúp tôi tránh xa những gì gợi nhớ về bệnh tật và chết chóc, tránh xa cuộc sống cuồng nhiệt và không phải lo ngại tới trách nhiệm giảng dạy và điều hành phòng khám lần này khác hoàn toàn với những năm tôi học đại học ở St. Andrews. Nó mang đến cho tôi sự thanh bình vốn đã trốn tránh tôi và tạo cho tôi khung cảnh để chữa lành vết thương và suy ngẫm, nhưng trọng yếu nhất là nó giúp tôi lành bệnh. Nước Anh không có sức lôi cuốn kỳ diệu như St. Andrews – tôi nghĩ là không có gì kỳ diệu cho tôi nhưng nó lại giúp tôi trở lại với chính mình và mang lại cho tôi những kỳ vọng về cuộc sống. Nó cũng mang lại cho tôi niềm tin về tình yêu.

Cuối cùng tôi đã quen với sự thật rằng David đã chết. Tới thăm ngôi mộ của anh ở Dorset vào một ngày chủ nhật rét mướt, tôi sững sờ trước vẻ dễ thương của sân vườn nhà thờ, nơi anh được chôn cất. Tôi không nhớ nhiều lắm về sân vườn này trong ngày tang lễ, nhất là sự thanh bình và vẻ đẹp của nó. Tôi nghĩ rằng sự tĩnh lặng trong ngày tang lễ chỉ là sự thông cảm, chứ không phải là sự yên bình mà người ta muốn có. Tôi đặt một bó hoa violet lên mộ anh và ngồi xuống, lần theo từng chữ khắc tên anh trên tấm bia đá granít và nhớ lại những ngày chúng tôi sống cùng nhau ở Anh, Washington và Los Angeles. Mọi chuyện hình như đã qua đi từ lâu lắm rồi, nhưng tôi như vẫn nhìn thấy anh cao, đẹp trai, khoanh tay đứng cười trên đỉnh đồi, trong một chuyến chúng tôi đi dạo ở vùng nông thôn Anh. Tôi vẫn thấy như anh đang ở bên tôi, cùng tôi quỳ xuống, thân mật hôn nhau trên chuyến tàu điện ở St. Paul. Tôi vẫn nhận thấy một cách rất rõ ràng cánh tay anh ôm chặt lấy tôi, bảo vệ tôi, làm cho tôi cảm thấy an toàn và thoải mái trong một toàn cầu đầy rẫy những điều phiền muộn. Hơn bất kì điều gì khác, tôi ước gì anh nhìn thấy tôi khoẻ mạnh và đã đền đáp được phần nào lòng tốt và niềm tin mà anh đã dành cho tôi. Tuy nhiên, khi ngồi đó bên cạnh mộ anh, tôi nghĩ nhiều đến những gì mà David đã bỏ lỡ do từ trần quá sớm. Sau hơn một giờ đồng hồ chìm trong suy tư, tôi chợt nhận thấy rằng lần trước nhất tôi nghĩ tới những gì David bị bỏ lỡ, hơn là những gì mà cả hai chúng tôi có thể bị lỡ.

David đã yêu và đồng ý tôi một cách khác thường. Sự tốt bụng và kiên định của anh đã níu kéo và cứu sống cuộc sống tôi, nhưng anh đã ra đi. Cuộc sống – nhờ có anh và bỏ mặc chết chóc của anh – vẫn diễn ra. Và nay, bốn năm sau chết chóc của anh, tôi đã tìm thấy một tình yêu hoàn toàn khác và một niềm tin mới vào cuộc sống. Tình yêu và niềm tin ấy đến với tôi qua một người đàn ông Anh lịch thiệp, hơi buồn và rất đẹp trai, người mà tôi đã gặp hồi đầu năm đó. Cả hai chúng tôi đều biết rằng do hoàn cảnh cá nhân và nghề nghiệp, mối quan hệ giữa chúng tôi sẽ chấm hết vào cuối năm đó, nhưng – bỏ mặc và có thể vì chính điều đó – mối quan hệ này cuối cùng đã thành công trong việc khôi phục lại tình yêu, tiếng cười và ước vọng cho một cuộc sống khép kín và một trái tim băng giá.

Chúng tôi gặp nhau lần trước nhất trong một buổi tiệc tối ở Luân Đôn, trong chuyến thăm Anh lần trước của tôi. Thật kỳ lạ và không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã yêu nhau ngay từ cái nhìn trước nhất. Như mãi sau này chúng tôi thừa nhận, cả hai chúng tôi cùng không để ý đến tất cả những ai . khác trên bàn tiệc hôm đó và cả hai cùng có cảm nghĩ rất kỳ lạ. Vài tháng sau, khi tôi trở lại Luân Đôn trong chương trình nghỉ kết phù hợp với phân tích của mình, anh đã gọi điện mời tôi đi ăn tối. Khi đó, tôi đang thuê một căn nhà nhỏ ở Nam Kensington nên chúng tôi đã tới một quán ăn ăn gần đó. Cả hai chúng tôi lại cùng có cảm nghĩ giống như lần đầu gặp mặt. Tôi như bị thôi miên trước sự thấu hiểu của anh về tôi, trong lúc thể xác tôi như bị ngập chìm trước vẻ cường tráng của anh. Rất lâu trước khi bữa ăn kết thúc, cả hai chúng tôi cũng hiểu rằng chúng tôi đã vượt qua ngưỡng có thể quay trở lại.

Trời đổ mưa khi chúng tôi rời quán ăn. Anh quàng tay qua người tôi khi chúng tôi cùng chạy vội về căn hộ của tôi. Về tới nơi, anh vẫn giữ tôi rất lâu trong khoảng cách rất gần. Tôi cảm thấy và ngửi thấy mùi nước mưa trên áo khoác của anh, cảm thấy cánh tay anh quàng qua người tôi và nhớ lại những cảm nghĩ tuyệt vời mà mưa, tình yêu và cuộc sống có thể mang lại. Đã khá lâu rồi, tôi không hề có một người đàn ông nào. Anh biết điều ấy và tỏ ra rất tốt bụng, tế nhị và say đắm tôi. Chúng tôi luôn liếc nhìn nhau và vì cả hai đang cùng có tâm trạng và xúc cảm mạnh, nên chúng tôi rất dễ an ủi nhau, nhưng cũng biết trốn tránh nhau khi thiết yếu. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Anh có khả năng xem xét tuyệt vời, thông minh, nhiệt tình và thỉnh thoảng lại đượm buồn. Anh nhanh chóng trở thành người thấu hiểu tôi hơn bất kỳ ai khác. Anh hiểu sự phức tạp của cảm nghĩ và tâm trạng, mà chẳng khó khăn gì – những trải nghiệm của chính anh đã hỗ trợ anh hiểu và tôn trọng những điều vô lý, sự kích động, những nghịch lý, sự thay đổi và tranh chấp trong tôi. Chúng tôi cùng yêu thơ, nhạc, yêu truyền thống và yêu cả những điều không chính đáng nữa. Chúng tôi cùng nhìn thấy mặt tối của những gì sáng nhất và cũng thấy được mặt sáng của những gì u ám và u tối nhất.

Chúng tôi đã tạo ra một toàn cầu riêng của những cuộc thảo luận, dục vọng và tình yêu, giữa sâm banh, hoa hồng, tuyết và mưa và sống trong ốc đảo của cuộc sống phục sinh cho cả hai. Tôi không ngần ngại nói với anh mọi chuyện về mình và giống như David, anh thấu hiểu bệnh hưng – trầm cảm của tôi. Phản ứng trước nhất của anh, sau thời điểm tôi kể hết với anh, là anh mang hai tay ôm lấy khuôn mặt tôi, hôn lên hai má tôi và nói: “Anh đã yêu em bằng cả trái tim mình”. Anh im lặng một lát rồi nói thêm: “Điều đó không hoàn toàn làm anh ngạc nhiên. Tuy nhiên, nó giải thích cho anh hiểu những mong manh trong cảm xúc của em. Anh rất mừng vì em đã nói với anh chuyện này”. Anh đã nói thật lòng mình. Đó không phải là những lời nói chỉ để che lấp cảm nghĩ khó xử. Toàn bộ những gì anh làm và anh nói sau cuộc trò chuyện ấy đã chứng minh rằng anh thật lòng. Anh hiểu những mong manh của tôi, quan tâm tới nó và tính tới nó trong những plan của mình. Tuy nhiên, anh cũng biết và yêu những sức mạnh trong tôi. Anh luôn nhớ cả hai điểm đó để vừa tránh gây tổn thương tới chứng bệnh của tôi, vừa trân trọng những thế mạnh của tôi, mà anh cho là đã mang niềm say mê vào cuộc sống, tình yêu và công việc.

 

Tôi kể cho anh nghe những vấn đề mà tôi gặp phải khi uống Lithi, nhưng tôi cũng nói với anh rằng cuộc sống tôi đã phụ thuộc vào Lithi. Tôi cũng nói với anh rằng tôi đã thảo luận với bác sỹ tâm thần của mình về khả năng giảm bớt liều dùng Lithi, với kỳ vọng tránh bớt những tác dụng phụ của thuốc. Tôi mong mỏi điều này, nhưng lại cũng lo sợ rằng bệnh điên của tôi có thể tái phát. Anh nói rằng có thể tôi sẽ không có thời kỳ nào an toàn và được chăm sóc tốt hơn lúc này để làm việc đó và anh hứa sẽ giúp tôi vượt qua thời kỳ này. Sau khoảng thời gian thảo luận với bác sỹ tâm thần của tôi ở Los Angeles và ở Luân Đôn, tôi khởi đầu giảm thiểu, từng tí một, liều lượng Lithi. Kết quả thật tuyệt vời. Nó giống như tôi được tháo băng mắt, sau nhiều năm bị mù vậy. Vài ngày sau thời điểm giảm liều lượng Lithi, tôi đi bộ trong công viên Hyde, xuôi theo con kênh uốn khúc, tôi chợt nhận thấy bước chân của mình năng động hơn và tôi nhìn thấy, nghe thấy nhiều điều mà trước đó như bị lọc qua lớp sương mù dày đặc vậy. Tiếng kêu của những con vịt nghe dứt khoát hơn, rõ hơn và mạnh hơn. Những tiếng động ở bên đường nghe rành rẽ hơn nhiều. Tôi cảm thấy mình năng động hơn và nhiều sinh lực hơn. Đáng kể nhất là tôi lại có thể đọc mà chẳng khó khăn gì. Tóm lại là sự thay đổi rất đáng kể.

Tối hôm đó, trong lúc ngồi chờ người đàn ông Anh buồn rầu, nhưng mạnh mẽ của tôi xuất hiện–tôi vừa thêu đăng ten, vừa ngắm tuyết rơi và nghe nhạc của Chopin và Elgar – tôi bỗng thấy tiếng nhạc rất rõ ràng và sầu thảm, tôi cũng thấy việc ngắm tuyết rơi và chờ đợi anh vừa đẹp, vừa buồn biết bao. Tôi nhận thấy nhiều vẻ đẹp hơn, nhưng cũng thấy nhiều nét buồn hơn. Khi anh tới – lịch thiệp, vừa từ một buổi tiệc tối chính thức nào đó trở về, với chiếc cà vạt đen và khăn quàng buổi tối bằng lụa trắng gấp lại và quàng lệch quanh cổ, còn tay thì cầm một chai rượu sâm banh – tôi liền mở bản Sonata cung Xi giáng D.960 viết cho đàn piano của Schubert, được xuất bản sau thời điểm ông từ trần. Này là bản tình ca đẹp, âm vang mãi trong đầu, tôi tràn trề xúc cảm và bật khóc. Tôi khóc vì trước đó đã bỏ qua những nét sầu thảm và mãnh liệt của bản nhạc mà tôi không biết và khóc vì vui sướng đã lại cảm thu được nó. Cho tới tận hiện giờ, mỗi lần nghe khúc nhạc này, tôi lại như chìm đi trong cảm nghĩ buồn sâu lắng, đẹp đẽ tối hôm đó, trong tình yêu mà tôi có quyền được biết.

See also  Cách tính phần trăm đơn giản, dễ hiểu

Một lần, sau vài ngày chúng tôi hoàn toàn không liên hệ gì với toàn cầu bên ngoài, anh mua về cho tôi một tuyển tập thơ về tình yêu. Anh đánh dấu một bài thơ rất ngắn, nhưng lại bắt được cái hồn, không chỉ của những ngày tuyệt vời, tràn ngập xúc cảm mạnh mẽ ấy, mà suốt cả năm đó:

Cảm ơn em vì dịp nghỉ cuối tuần say đắm.

 Họ nói với anh rằng trời đã đổ mưa.

TÌNH YÊU DÕI NHÌN BỆNH ĐIÊN

Tôi lo sợ phải rời nước Anh. Tâm thần của tôi đã ổn định trong một khoảng thời gian rất dài, trái tim tôi đã mang một sức sống mới và đầu óc tôi đã tỉnh táo, sau thời điểm được tận hưởng cảm nghĩ mới về Oxford và St. George nhờ dùng ít thuốc hơn. Tôi ngày càng khó hình dung ra việc phải từ bỏ nhịp sống điều độ mà tôi đã tự tạo ra cho mình trong những ngày ở Luân Đôn. Tôi càng khó hình dung hơn việc phải mất đi những xúc cảm mạnh mẽ và sự thấu hiểu lẫn nhau mà tôi đã có trong những đêm ở Luân Đôn. Nước Anh là nơi đã chôn vùi hầu như những nghi ngại thường trực trước kia của tôi về “chuyện gì sẽ xảy ra nếu.”, “vì sao” và “điều gì có thể đã xảy ra”. Đó cũng là nơi chôn vùi, theo một cách hoàn toàn khác, trận chiến chống Lithi của tôi, một trận chiến tuy chẳng có gì đáng kể, nhưng tôi lại đã từng thất bại khi cưỡng lại những tư duy của chính mình. Tôi đã phải trả giá đắt cho điều đó bằng khoảng thời gian đã mất, và nay khi đã cảm nhận lại được chính mình, tôi không muốn mất thêm bất kỳ một khoảng thời gian nào nữa, vì cuộc sống này không đáng để bị mất đi.

Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là một năm vẫn qua đi, Tuyết và các loại rượu mạnh làm ấm lòng người trong mùa đông nước Anh đã phải nhường chỗ cho những trận mưa nhẹ và các loại rượu vang trắng đầu hè. Hoa hồng và ngựa đã khởi đầu xuất hiện trong công viên Hyde; hoa táo trong mờ và lộng lẫy đã nở rực trên cành trong công viên St. James; và tia nắng mùa hè đã khởi đầu rực rỡ chỉ ít ngày xưa hôm tôi phải ra đi. Thật khó khăn khi phải nhớ lại cuộc sống của tôi ở Los Angeles, nhất là việc phải trở về với những ngày bận rộn, điều hành phòng khám của một trường đại học lớn với những người bệnh ốm yếu, lại phải dạy học và khám cho một hàng dài người bệnh ngồi chờ. Tôi khởi đầu nghi ngờ không biết mình có còn nhớ cụ thể các bước tiến hành phân tích và xác minh tâm thần hay không, chứ đừng nói gì tới việc dạy người khác phải làm như vậy nào. Tôi ngần ngại rơi nước Anh, lại càng ngần ngại trở về với tp nơi tôi đã không chỉ quen với sự nghiệp học thuật đầy vất vả, mà cả với những cơn suy sụp, kiệt sức, rét mướt và tàn nhẫn sau mỗi trận điên, và cả với trò giả dối làm ra vẻ mình khoẻ mạnh trong lúc tôi đang ốm và phải cố tìm cách tỏ ra ưng ý, trong lúc tâm trạng của tôi thật kinh khủng.

Tuy nhiên, linh tính ấy của tôi hoàn toàn sai. Một năm qua không chỉ là kỳ nghỉ giữa những tháng năm bận rộn, mà thực sự là khoảng thời gian giúp tôi hồi phục. Tôi lại thấy thích thú với công tác giảng dạy, lại tìm thấy niềm vui như hồi đầu khi giám sát công tác điều trị của các bác sỹ và thực tập sinh và việc khám cho người bệnh đã tạo cho tôi thời dịp mang một số bài học mà tôi đã rút ra được từ kinh nghiệm của chính mình vào thực tiễn. Sự suy sụp về trí não đã gây ra những tổn thất lâu dài và kinh khủng, nhưng thật kỳ lạ, chỉ đến khi tôi thấy mình khoẻ mạnh, năng động và phấn khởi trở lại, tôi mới thực sự cảm thu được những thiệt hại ghê gớm ấy.

Công việc đã diễn ra khá trôi chảy. Tôi dành phần lớn thời gian để viết sách giáo khoa về bệnh hưng – trầm cảm, mà tôi là đồng tác giả. Tôi vui sướng trước việc này tôi đã có thể đơn giản đọc, phân tích và nhớ những bài giảng y học, mà cho tới rất gần đây tôi vẫn còn phải vất vả lắm mới lĩnh hội được. Tôi ưng ý nhận thấy phần tôi viết trong cuốn sách giáo khoa là sự tập hợp của khoa học, thực tiễn điều trị trong phòng khám và kinh nghiệm của cá nhân mình. Tôi e ngại rằng những kinh nghiệm này có thể tác động quá mức tới những điều tôi viết – do nội dung hay do cách nhấn mạnh – nhưng đồng tác giả của cuốn sách đã hiểu rõ bệnh tình của tôi và nhiều bác sỹ và nhà khoa học khác cũng từng xem xét phản hồi cho những điều chúng tôi viết. Dù vậy thỉnh thoảng tôi cũng tự thấy mình đã tô đậm một số khía cạnh mà tôi đã từng trải qua, để nhấn mạnh một số hiện tượng hay cách điều trị rõ ràng trong phòng khám. Nhiều chương tôi viết về tự tử, tuân thủ việc uống thuốc, tuổi thơ và thời thanh niên, liệu pháp tâm lý, hiện tượng trong phòng khám, sự sáng tạo, tính cách cá nhân và sự giao tiếp, sự rối loạn tư duy, nhận thức và sự hiểu biết – đã chứa đựng trong đó niềm tin mạnh mẽ của tôi rằng đây là những ngành nghề thường bị xem nhẹ. Các chương khác – như về phân tích bệnh học, lạm dụng rượu và ma túy, và nhận xét mức độ điên và trầm cảm – lại đa số nhằm xem xét lại những tài liệu hiện hành về bệnh tâm thần.

Trong chương viết về hiện tượng trong phòng khám – các đặc trưng cơ bản của bệnh điện và hưng cảm, trầm cảm và rối loạn, và tâm tính xoay chuyển đã làm nổi trội các hiện tượng trong bệnh viện–tôi đã không chỉ dựa vào các công trình phân tích của các bác sỹ nổi tiếng, như Giáo sư Emil Kraepelin và nhiều nhà phân tích khác đã từng có các công trình phân tích sâu rộng về đề tài này, mà còn dựa vào cả những nội dung của chính các người bệnh hưng-trầm cảm. Rất nhiều nội dung này là của các nhà văn và nghệ sỹ, những người đã mô tả một cách đúng đắn và sống động về bệnh điện, trầm cảm và tâm trạng rối loạn của họ. Hầu như phần sót lại là lời kể của các người bệnh của tôi hoặc những đoạn trích từ các tài liệu về bệnh tâm thần. Trong một vài trường hợp, tôi sử dụng cả những trích đoạn mà tôi đã viết về những trải nghiệm của chính mình để phục vụ cho công tác giảng dạy những năm trước đó. Vì vậy, trong các chương về điều trị trong phòng khám, xen giữa chu kỳ lặp lại của triệu chứng và những hiện tượng ở người bệnh, cùng những trích đoạn rút ra từ các tài liệu kinh điển của Châu Âu và Anh, là những đoạn thơ, tiểu thuyết và tự truyện do chính những người mắc chứng hưng – trầm cảm viết ra.

Rất nhiều lần, xuất phát từ kinh nghiệm của chính mình và thực tiễn ở phòng khám, tôi đã nhấn rất mạnh tới rủi ro chết người của bệnh hưng – trầm cảm, nỗi sợ chết người ở bệnh rối loạn thần kinh và tầm trọng yếu của việc thuyết phục những người bệnh không chịu uống Lithi hoặc các loại thuốc theo đơn khác để kiểm tra tâm trạng của mình. Việc tách khỏi những cảm nghĩ và quá khứ của chính mình để có thể viết sách một cách có tri thức và học thuật hơn đã buộc tôi phải tưởng niệm lại mọi chuyện và sắp xếp những rắc rối mà mình đã trải qua theo một trình tự có chủ đích hơn. Những công trình phân tích trong ngành nghề này thường không chỉ thú vị, mà còn mang lại niềm kỳ vọng thực tiễn về một phương pháp điều trị mới. Mặc dù thỉnh thoảng người ta vẫn rất khó chịu khi thấy những xúc cảm và hành vi phức tạp của bệnh tâm thần được diễn giải một cách ngớ ngẩn trong triệu chứng chẩn đoán, nhưng nói chung người ta cũng thường bắt gặp những phương pháp và phát hiện mới trong ngành nghề điều trị đang phát triển nhanh này.

Thật kỳ lạ cuối cùng tôi lại yêu thích cách nhận xét và phân tích qua việc sử dụng nhiều tư liệu và bảng biểu. Quả là hơi buồn ngủ khi phải mang hết con số này đến con số khác, hết tỷ lệ phần trăm này đến tỷ lệ phần trăm khác vào bảng tổng hợp tóm tắt; rồi phê phán những phương pháp đã được sử dụng trong các công trình phân tích trước; để qua đó rút ra những nhận xét từ hàng lô cuốn sách và tài liệu đã phân tích. Giống như khi tôi hoảng sợ hoặc khó xử hồi còn nhỏ, tôi phát xuất hiện rằng việc đề ra nhiều thắc mắc, tìm thấy lời lý giải thích thống nhất, rồi lại đặt thêm thắc mắc, là phương pháp tốt nhất để thoát khỏi những đắn đo và không bị bó hẹp trong một khuôn khổ tri thức nhất định.

Việc giảm thiểu lượng Lithi đã không chỉ giúp tôi tư duy rõ ràng hơn, mà nó còn làm cho những cảm nghĩ sống động và mạnh mẽ trở lại với cuộc sống tôi. Đây là những nhân tố đã từng tạo dựng cốt phương pháp tính khí bình thường của tôi và sự thiếu vắng chúng đã tạo ra khoảng cách kinh khủng trong cách tôi phản ứng với toàn cầu bên ngoài. Sự cứng nhắc trong tâm trạng và tính khí của tôi, hậu quả của việc sử dụng Lithi liều cao, đã làm cho khả năng phản ứng với ức chế của tôi kém hơn so với khi dùng Lithi liều thấp. Giống như những bộ luật của California được soạn thảo để hạn chế thiệt hại của những trận động đất, việc sử dụng Lithi liều thấp đã cho phép trí tuệ và tâm thần của tôi được linh hoạt hơn. Dần dần, tôi khởi đầu nhìn ra xung quanh và phát xuất hiện rằng đó chính là sự thăng bằng và có thể dự đoán được mà hầu như mọi người đều có, như một điều hiển nhiên trong suốt cuộc sống họ.

Khi đang là sinh viên đại học tôi có trợ giáo cho một học viên mù về môn thống kê. Nhờ con hướng dẫn đường, mỗi tuần anh ta đến phòng làm việc nho nhỏ của tôi ở tầng hầm của toà nhà phòng khám tâm thần một lần. Quá trình làm việc với anh ta đã thúc đẩy đến tôi rất nhiều. Tôi thấy anh ta rất vất vả mới có thể làm được những việc mà so với tôi là rất hiển nhiên. Tôi cũng thấy mối quan hệ vô cùng chặt chẽ giữa anh ta với con chó giống coli, mà cứ mỗi lần mang anh ta đến văn phòng của tôi là nó lại khoanh tròn nằm ngủ. Khi đã quen nhau, tôi hỏi anh ta thấy mù thế nào; là một sinh viên trẻ, bị mù trong trường Đại học California, thì tình hình ra sao; và cuộc sống của anh ta thế nào khi phải phụ thuộc vào người khác để học tập và tồn tại. Vài tháng sau thời điểm tôi nghĩ rằng mình đã hiểu một tí gì đó, dù nhỏ, về cuộc sống anh ta, thì anh ta đề xuất tôi tới trợ giảng cho anh ta ở phòng đọc dành cho người mù trong thư viện của trường đại học, thay vì anh ta phải tới phòng làm việc của tôi.

Lần mò mãi tôi mới tìm thấy phòng đọc ấy và bước vào. Tôi sững người và hoảng sợ khi thấy căn phòng hầu hết tối đen. Căn phòng lặng như tờ, không một ngọn đèn, trong lúc năm sáu học viên đang chúi đầu vào cuốn sách của họ hoặc đang chú tâm nghe bài giảng của các giáo sư mà họ thu âm lại. Cảnh tượng ấy làm tỏi ớn lạnh xương sống. Nghe tiếng tôi tới, anh học viên của tôi liền đứng dậy, bước tới chỗ công tắc điện và bật đèn cho tôi. Đó chính là một trong những khoảng khắc rõ ràng nhất để tôi nhận thấy rằng tất cả chúng ta đã chẳng hiểu gì hết và không hề có một sự thông cảm thực sự nào với toàn cầu của người khác. Khi tôi ngày càng bước vào toàn cầu của cuộc sống ổn định và có thể dự đoán được hơn, thì tôi cũng khởi đầu nhận thấy rằng tôi biết rất ít về nó, cũng như không hề có một ý niệm thực tiễn nào về cuộc sống trong toàn cầu ấy. Xét dưới nhiều khía cạnh, tôi là người lạ trong toàn cầu bình thường.

Này là một tư duy tỉnh táo ở khoảng giao thời. Tính khí của tôi vẫn thường thay đổi và nghiêng ngả, đủ để làm cho tôi thỉnh thoảng có cảm nghĩ đê mê, vượt ra ngoài tư duy bình thường. Bệnh điên trắng này tạo ra xúc cảm mãnh liệt, sự hồ hởi cao độ, tạo ra niềm tin tuyệt đối và làm cho ý tưởng đơn giản tuôn trào. Đó chính là nguyên nhân làm cho tôi khó đồng ý việc uống Lithi trong một thời gian dài đến thế. Tuy nhiên, khi tình trạng suy sụp đến chắc rằng xảy ra sau đó, tôi lại nhận thấy rằng tôi đang mắc một chứng bệnh tồi tệ, mà có thể phá hủy mọi niềm vui, kỳ vọng và nghị lực. Tôi khởi đầu thèm muốn sự ổn định mà hầu như các đồng nghiệp của tôi đều có. Tôi cũng khởi đầu biết cách tranh thủ thời gian trước khi đầu óc tôi trở nên bồng bềnh như đi trên mặt nước vậy. Quả thật là hầu như khối lượng công việc của tôi được hoàn thiện trong những ngày và những tuần hứng thú, nhưng những dự án và ý tưởng mới nảy sinh trong thời kỳ này lại phải được hoàn thiện trong thời kỳ trầm cảm sau đó. Tôi luôn phải đuổi theo cái đuôi của bộ óc của chính mình, thoát ra rồi lại rơi vào những tâm trạng và trải nghiệm mới. Tuy nhiên, những cảm nghĩ mới này khởi đầu thiếu cả hình thức lẫn bản chất mới và nó chỉ đang là sự tích tụ đơn thuần những gì tôi đã từng biết, và không giúp tôi đi sâu tìm hiểu thêm những gì tôi đã từng trải nghiệm.

Tâm trạng cực điểm của tôi tuy khác xa so với trước kia, nhưng rõ ràng là sự không ổn định ở mức thấp, theo từng cơn, đã trở thành một phần của cuộc sống tôi. Sau nhiều năm, cuối cùng tôi cũng nhận thấy rằng một sự ổn định nhất định về trí tuệ không chỉ là đáng muốn mà còn rất thiết yếu nữa. Tuy nhiên, ở nơi nào đó trong trái tim mình, tôi vẫn tin rằng một tình yêu mãnh liệt và vững chắc chỉ có thể có được trong xúc cảm mãnh liệt và hơi lộn xộn một tí. Có vẻ điều này đã làm cho tôi nghĩ rằng tôi phải sống cùng một người đàn ông có tính khí về cơ bản là giống mình. Tôi đã mất quá nhiều thời gian mới hiểu ra rằng sự lộn xộn và mãnh liệt không thay thế được cho tình yêu vững chắc và nó cũng không cải tổ được cuộc sống thực tiễn. Những người bình thường không phải khi nào cũng buồn tẻ. Trái lại, sự không ổn định và đê mê, tuy thường tạo ra cảm nghĩ lãng mạn và cám dỗ hơn, nhưng về bản chất lại không có lợi cho việc cảm nhận và nhận xét ổn định về người khác (cho dù chúng không xung khắc nhau). Con người ta luôn có cảm nghĩ trực quan về tình bạn và gia đình. Cảm nhận đó sẽ ít mạch lạc hơn khi rơi vào trạng thái lãng mạn, vì nó phản ánh, thổi phồng và chịu ràng buộc của tâm trạng và tính khí không ổn định của chính mình. Tôi sung sướng và cũng đớn đau không kém, khi nhận thấy sự vững chắc và phát triển của tình yêu, từ người chồng của tôi, người đã sống cùng tôi trong gần một thập kỷ.

Tôi gặp Richard Wyatt lần trước nhất trong một buổi tiệc Giáng sinh ở Washington và chắc rằng là anh không giống một tí nào với mẫu người mà tôi hình dung. Tôi đã nghe nói về anh một nhà phân tích nổi tiếng về bệnh tâm thần phân liệt, là Trưởng khoa Tính năng thần kinh của Viện Tâm thần quốc gia và là tác giả của hơn bảy trăm nội dung và cách khoa học nhưng tôi hoàn toàn không nghĩ rằng con người đẹp trai, khiêm tốn và lịch lãm một cách trầm lặng, đứng trò chuyện với tôi bên cây thông Giáng sinh cao lớn ấy, lại chính là anh. Anh không chỉ mê hoặc, mà còn rất dễ trò chuyện. Những tháng sau đó, chúng tôi gặp nhau khá thường xuyên. Không đầy một năm sau thời điểm chúng tôi gặp nhau, tôi trở lại Luân Đôn nghỉ sáu tháng theo tiêu chuẩn của UCLA. Này là sáu tháng tuyệt vời. Sau đó tôi trở lại Los Angeles một thời gian để hoàn thiện những công việc tồn đọng sau kỳ nghỉ phép và chuẩn bị plan chuyển về sống ở Washington. Mặc dù mọi chuyện giữa chúng tôi mới chỉ trải qua một thời gian ngắn, nhưng này là mối quan hệ thú vị. Tôi thích được ở bên anh và phát xuất hiện rằng anh không chỉ rất lịch lãm, mà còn giầu trí tưởng tượng, ham hiểu biết, cởi mở và rất dễ gần. Ngay từ khi đó, tức là mới chỉ ở thời kỳ rất sơ khai của mối quan hệ giữa chúng tôi, tôi đã thấy rằng tôi phải có anh trong cuộc sống. Tôi từ chức giáo sư thường xuyên ở trường y, tiếc nuối khi phải chia tay với Trường đại học California mà tôi yêu dấu và lo ngại tới thúc đẩy tài chính của việc từ bỏ nguồn thu nhập ổn định này. Sau này là một chuỗi dài những buổi tiệc mà đồng nghiệp, đồng bọn và sinh viên tổ chức chia tay tôi. Tuy nhiên, tựu trung lại, tôi rời Los Angeles mà không tiếc nuối nhiều lắm. So với tôi, Los Angeles chưa khi nào là “Thành phố của những thiên thần” và tôi vô cùng sung sướng khi được từ giã, trước hết là hàng trăm mét phía dưới – và sau này là hàng nghìn dặm phía sau tôi – tp đầy ắp những ký ức suýt chết, sự trong trắng bị tan vỡ tâm hồn và trí tuệ thường xuyên bị phá vỡ. Cuộc sống ở California vẫn tốt và thậm chí rất tuyệt vời nữa, nhưng tôi đã không thể nhận thấy được những điều tốt đẹp ấy vào thời điểm tôi trở lại Washington sinh sống. Vùng Đất hứa, với biết bao kỳ vọng, nhưng luôn trốn tránh và đầy phức tạp ấy so với tôi vẫn chỉ là hứa hẹn.

Richard và tôi chuyển đến sống trong một ngôi nhà ở Georgetown và điều mà chúng tôi cùng cảm thấy đã nhanh chóng được bộc lộ. Này là chúng tôi khác hoàn toàn nhau: anh là người trầm tĩnh, trong lúc tôi mạnh mẽ; tôi lúc nào cũng cuống lên với công việc, còn anh thì điềm tĩnh xử lý mọi chuyện; anh bình tĩnh, trong lúc tôi rất dễ nổi nóng; và trong lúc mọi chuyện của toàn cầu đến với anh một cách nhẹ nhõm, thậm chí như không, thì nó lại ào đến với tôi vừa thú vị, vừa thống khổ. Anh là một người ôn hoà trong hầu như các trường hợp và hầu hết trong mọi lúc, trong lúc tôi thường xem nhẹ mọi chuyện, hấp tấp trong cảm nhận và cũng thường phải vội vàng chìa tay ra với kỳ vọng hàn gắn những vết thương mà chúng tôi vừa gây ra cho nhau. Những buổi hoà nhạc và ca nhạc thính phòng mà tôi yêu thích lại là một sự tra tấn so với anh. Tương tự như vậy, anh luôn khổ sở với những buổi trò chuyện dài và những dịp nghỉ dài quá ba ngày. Chúng tôi hoàn toàn không hợp nhau. Trong lúc tôi thường xuyên hưng phấn hoặc rơi vào trạng thái suy sụp hoàn toàn, thì Richard, người luôn giữ được sự cân đối trong xúc cảm, lại cảm thấy khó có thể xử lý tâm trạng thường xuyên thay đổi của tôi – và tệ hại hơn nữa là anh không coi này là vấn đề nghiêm trọng. Anh không biết phải làm gì với tôi. Nếu tôi hỏi anh đang nghĩ gì, thì đó chưa khi nào là chết chóc, là điều kiện sống, các mối quan hệ hay bản thân chúng tôi, mà thay vào này là một vấn đề nào đó của khoa học và thường là về người bệnh. Anh theo đuổi khoa học và công tác điều trị với một lòng nhiệt tình giống hệt như sự lãng mạn mà tôi theo đuổi trong phần sót lại của cuộc sống mình.

Rõ ràng là anh không muốn nhìn một cách có ý nghĩa vào mắt tôi trong những bữa ăn tối kéo dài với rượu vang ngon và cũng không muốn thảo luận về văn học hay âm nhạc bên những tách cà phê và rượu poóctô trước giờ đi ngủ. Thực tiễn là anh không thể để lãng phí thời gian quá nhiều. Anh rất tập trung khi tư duy, không uống nhiều rượu, không khi nào đụng đến cà phê và không quan tâm lắm tới những rắc rối trong các mối quan hệ hay những hàm ý của văn nghệ. Anh không chịu được thơ và rất ngạc nhiên trước việc tôi dành quá nhiều thời gian để đi lang thang, mà thường là không nhằm mục đích, tới vườn thú, tới các phòng tranh, đi chơi cùng con chó của tôi – một con chó duyên dáng, rất độc lập, hơi rụt rè, thuộc dòng chó săn nhỏ, mang tên Bí ngô- hay gặp mặt đồng bọn để cùng ăn sáng và ăn trưa. Dù vậy, trong nhiều năm chung sống với nhau, tôi chưa một lần nào nghi ngờ tình yêu mà Richard dành cho tôi, cũng như tình yêu của tôi so với anh. Giống như cuộc sống, tình yêu kỳ lạ và phức tạp hơn nhiều so với những gì người ta được dạy dỗ khi lớn lên. Mối quan tâm chung của chúng tôi về tri thức – y học, khoa học và tâm lý – là rất mạnh, trong lúc sự khác biệt giữa chúng tôi, cả về bản chất lẫn phong thái, lại tạo ra cho chúng tôi sự độc lập rất cao, điều vô cùng thiết yếu cho cuộc sống, và chính nó cuối cùng đã gắn kết chúng tôi lại với nhau trong nhiều năm. Cuộc sống của tôi với Richard đã trở thành một bến đỗ an toàn, một bến cảng vô cùng thú vị, đầy tình yêu và sự ấm cúng và luôn mở cửa với đại dương. Tuy nhiên, giống như mọi bến cảng luôn tìm cách duy trì sự mê hoặc và an toàn khác, nó vẫn chỉ là một nơi đến trong hành trình đi biển.

Khi lần trước nhất tôi nói với Richard về bệnh hưng-trầm cảm của tôi, không lâu sau thời điểm chúng tôi gặp nhau, anh đã thực sự sửng sốt. Khi đó, chúng tôi đang ngồi cùng nhau trong phòng ăn lớn của khách sạn Del Coronado ở San Diego. Anh từ từ đặt chiếc bánh mì kẹp thịt đang ăn xuống, nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp, và nói cụt ngủn: “Điều đó giải thích nhiều chuyện”. Anh là người rất tốt bụng. Giống như những gì David Laurie đã làm, anh hỏi tôi rất nhiều về chứng bệnh mà tôi đang mắc và thúc đẩy của nó tới cuộc sống của tôi. Có vẻ vì cả hai người đều là bác sỹ điều trị nên anh cũng hỏi tôi hết thắc mắc này đến thắc mắc khác, mang nặng tính y học: như triệu chứng mỗi khi tôi bị điên là gì, tôi đã từng bị suy sụp tới mức nào, đã khi nào tôi định tự tử chưa, tôi đã từng uống những loại thuốc nào trong quá khứ và hiện tại tôi đang uống thuốc gì, và tôi có bị các tác dụng phụ không. Giống như thường ngày, anh không quá xúc động. Cho dù điều đó có làm anh quan tâm đến đâu chăng nữa, anh vẫn tốt bụng và đủ thông minh để giữ kín nó ở trong lòng.

Tuy nhiên, tôi biết rõ rằng sự thông cảm kiểu này không phải khi nào cũng biến thành sự thấu hiểu trong cuộc sống mỗi ngày. Về cơ bản tôi rất nghi ngờ khả năng có ai đó không mắc chứng bệnh này lại thực sự thấu hiểu được nó. Và cuối cùng có vẻ sẽ là vô lý nếu kỳ vọng người khác phải đồng ý chứng bệnh này ở một mức độ nào đó, điều mà người bệnh luôn hằng khao khát. Chứng bệnh này không thể trông cậy vào sự thông cảm dễ dãi. Một khi tâm trạng hưng phấn biến thành giận dữ, bạo lực hay rối loạn tâm thần, thì giống như mọi người khác, Richard cũng khó có thể coi này là một chứng bệnh, mà thay vào đó anh có thể nhìn nhận nó như là một sự ngang bướng, giận giữ, vô lý hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu. Những gì tôi phải trải qua, vượt ra ngoài khả năng kiểm tra của mình, thì hình như anh cho rằng này là hành vi có tính toán và cố ý gây hoảng sợ. Vào những thời khắc đó, tôi không thể nói cho anh hiểu sự vô vọng và nỗi đau của mình. Sau đó, việc hàn gắn lại quan hệ, sau những hành động phá phách và những lời nói kinh khủng, còn khó khăn hơn nhiều. Bệnh điên kinh khủng này, cùng với sự kích động dữ tợn và man rợ của nó, rõ ràng là rất khó để Richard có thể hiểu được và cũng rất khó để tôi có thể giải thích.

Không tình yêu nào có thể chữa được bệnh điên hay giải tỏa được tâm trạng tồi tệ của người điên. Tình yêu có thể trợ giúp, nhưng chỉ có thuốc mới làm dịu cơn điên. Mặt khác, trong hầu như các trường hợp, bệnh liên lại thường giết chết tình yêu do không tin nhau, chán nản, bất bình, do những hành vi dị thường và nhất là do tính khí hoang dại của người bệnh. Thời kỳ trầm cảm, buồn rầu hơn, ngủ nhiều hơn, chậm rãi hơn và ít bạo lực hơn diễn ra sau này lại thường dễ được người khác thông cảm hơn. Thời kỳ u sầu tĩnh lặng vừa không đe dọa ai, vừa không vượt quá hạn chế có thể đồng ý được, trong lúc sự tức giận, bạo lực và gây phiền toái lại vừa đe dọa người khác, vừa vượt ra ngoài hạn chế thông thường. Tuy nhiên những trải nghiệm và tình yêu, theo thời gian, đã dạy cho cả hai chúng tôi biết cách ứng phó với bệnh hưng – trầm cảm. Thỉnh thoảng, tôi vẫn cười và nói với anh rằng sự điềm tĩnh của anh có giá trị ngang với 300 miligram Lithi mỗi ngày so với tôi và điều.đó hình như đúng.

Thỉnh thoảng giữa cơn điên loạn phá phách kinh khủng, tôi cảm thấy sự điềm tĩnh của Richard ở bên và tôi nhớ tới nhận xét tuyệt vời của Byron về cầu vồng bên thác nước. Nó giống “Như hy vọng bên giường người chết”, cho dù “Tất cả như bị xé tan; Trong thác nước điên cuồng”, cầu vồng vẫn thản nhiên hiển hiện:

Tựa như giữa cảnh hoang tàn,

Tình yêu bình thản dõi nhìn bệnh điên.

Tuy nhiên, cho dù tình yêu không chữa trị được bệnh điện, nó vẫn là một liều thuốc cực mạnh. Giống như John Donne đã từng viết, tuy nó không được tinh chiết tinh khiết như mọi người từng nghĩ hay mong ước nhưng tình yêu vẫn tồn tại và phát triển.

 

PHẦN IV

TÂM HỒN KHÔNG TĨNH LẶNG

Nói về điên

Không lâu trước khi tôi rời Los Angeles đi Washington, tôi thu được một lá thư lăng mạ và khó chịu nhất mà người ta đã từng viết cho tôi. Đó không phải là lá thư của đồng nghiệp hay người bệnh, mà của một phụ nữ, người này sau thời điểm xem thông báo về một buổi trò chuyện của tôi, đã cảm thấy bị xúc phạm vì tôi đã dùng từ “điên” trong tiêu đề bài giảng của mình. Bà ta viết rằng tôi vô cảm, ngu độn và rõ ràng là không hiểu biết một tí gì về nỗi thống khổ mà người ta phải chịu đựng khi mắc một chứng bệnh tệ hại như bệnh hưng-trầm cảm. Bà viết rằng tôi cũng chỉ là một bác sỹ nữa đang leo lên nấc thang học vị bằng cách giẫm lên xác những người mắc bệnh tâm thần. Tôi bị sốc trước những lời lẽ dữ tợn của bức thư, rất bực mình, nhưng cuối cùng lại tư duy rất lâu và rất nghiêm túc về từ điên.

Ngôn từ được sử dụng để mô tả và nói về bệnh thần kinh hàm chứa rất nhiều thứ khác nhau – sự sinh động, sáo rỗng, độ đúng đắn về y học và triệu chứng bệnh toàn bộ được pha trộn với nhau, làm cho nó trở nên rối rắm, gây hiểu nhầm và dần dần bị mất đi ý nghĩa truyền thống của ngôn từ ấy. Vị trí của những từ như “điên”, – “dở người”, “khùng”, “gàn” và “bệnh tâm thần” nay không còn rõ ràng trong xã hội đang ngày càng nhạy cảm với xúc cảm và quyền lợi của những người mắc bệnh tâm thần nữa. Vậy có nên để những từ và cụm từ có ý nghĩa và thường là dí dỏm như “Đón tàu nhanh đến Thành phố Sóc”, “Chỉ thiếu vài quả táo cho buổi cắm trại”, “Ngắn tường”, “Quanh chỗ cong” hay “Mất bong bóng” (từ lóng của lính tàu ngầm Anh chỉ bệnh điên) thay cho những ngôn từ nhất thời được xem là “đúng” hay “có thể chấp nhận được”?

Một trong những người bạn của tôi, phải vào phòng khám tâm thần vì một trận điên nặng, đã buộc phải tham gia một chương trình trị liệu theo nhóm trước khi xuất viện. Chương trình này nhằm nâng cao ý thức, khuyến khích những người sắp trở thành cựu người bệnh không sử dụng hoặc không cho phép sử dụng trước mặt họ những từ như “sốc”, “bánh trái cây”, “điên rồ”, “chập mạch”, “gàn” hay “cuồng”. Người ta cho rằng việc sử dụng những từ này có thể “kéo dài tình trạng thiếu tự trọng và tự bôi xấu mình”.

Người bạn của tôi cho rằng chương trình này là kẻ cả và lố bịch. Nhưng có đúng thế không? Một mặt, này là lời khuyên dáng hoan nghênh và mang tính chuyên môn cao, cho dù nó hơi nghiêm khắc quá. Nỗi đau khi nghe những từ này, trong một khung cảnh hay với một giọng điệu không thích hợp, là rất đáng kể và nó cũng có thể kéo dài ký ức về sự vô tình và thành kiến. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cho phép sử dụng vô tội vạ những ngôn từ như vậy sẽ không chỉ gây ra nỗi đau cho người khác, mà còn trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự phân biệt đối xử trong công việc, bảo hiểm và xã hội nói chung.

Mặt khác, nếu cho rằng việc từ bỏ một cách cứng nhắc những từ và cụm từ đã tồn tại qua nhiều thế kỷ sẽ thúc đẩy mạnh tới thái độ của công chúng, thì cũng chưa có gì là chắc rằng. Này là sự ảo tưởng về một câu trả lời đơn giản cho một vấn đề vô cùng phức tạp và phớt lờ vai trò vô cùng to lớn của sự hóm hỉnh và mỉa mai trong việc góp phần làm thay đổi xã hội và tính vị kỷ của con người. Rõ ràng là cần phải có những ngôn từ tự do, phong phú, hóm hỉnh và trực tiếp nói về tình trạng tâm thần và cách hành xử không bình thường. Tương tự như vậy, rõ ràng là cũng rất phải có sự thay đổi ý kiến của xã hội về bệnh tâm thần. Vấn đề là trong khung cảnh nào và nhấn mạnh đến mức nào. Ví dụ khoa học đòi hỏi phải sử dụng những ngôn từ rất đúng đắn. Trong lúc đó, sự e ngại và hiểu nhầm của công chúng, nhu cầu của khoa học, sự ngớ ngẩn của việc đại chúng hoá môn tâm lý học và mục tiêu bảo vệ sức khoẻ thần kinh lại luôn được pha trộn với nhau trong một sự rối rắm đầy xung khắc.

Một trong những ví dụ rõ nhất là việc sử dụng nhầm lẫn từ “rối loạn lưỡng cực”. thuật ngữ được xác nhận trong Sách hướng dẫn chẩn đoán và thống kê (DSM-IV), một cuốn sách có uy tín về chẩn đoán do Hiệp hội Tâm thần Mỹ xuất bản thay cho từ “bệnh hưng – trầm cảm” truyền thống. Mặc dù tôi luôn nghĩ rằng mình mắc chứng “hưng trầm cảm”, nhưng chẩn đoán DSM-IV chính thức của tôi lại viết rằng tôi “bị rối loạn lưỡng cực I; định kỳ tái phát, có những đặc tính tâm thần nặng; hồi phục hoàn toàn giữa các kỳ bị bệnh” (Một trong nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV mà tôi đã “mắc” và yêu thích, là “tham gia quá hăng hái vào những hoạt động ưa thích”). Là một bác sỹ điều trị và một nhà phân tích, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng để đảm bảo tính đúng đắn và độ tin cậy, các công trình phân tích khoa học và điều trị cần phải sử dụng những ngôn từ đúng đắn và phải dựa trên những tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng, vốn là nền tảng của DSM-IV. Không một người bệnh nào hay gia đình họ được trị bệnh chu đáo chỉ bằng những ngôn từ thanh nhã và diễn cảm, nếu như này là những ngôn từ không đúng đắn và mang nặng ý kiến chủ quan. Tuy nhiên, với tư cách một con người và một người bệnh, tôi thấy từ “lưỡng cực” là khá lạ lẫm và khó chịu. Tôi cho rằng từ này là không rõ nghĩa và phản ánh không đúng đắn tình trạng chứng bệnh của tôi. Trong lúc đó, thuật ngữ “bệnh hưng – trầm cảm” hình như lại thâu tóm được cả bản chất và mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh mà tôi đang mắc phải và không che đậy tình trạng của chứng bệnh này.

Hầu như các bác sỹ điều trị và nhiều người bệnh cảm thấy rằng từ “rối loạn lưỡng cực” có vẻ ít bêu xấu người bệnh hơn là cụm từ “bệnh hưng-trầm cảm”. Có thể đúng, nhưng cũng có thể không đúng. Tất nhiên những người bệnh mắc phải chứng bệnh này cần được quyền lựa chọn thuật ngữ nào mà họ cảm thấy thoải mái nhất. Tuy nhiên, có hai thắc mắc được đề ra ở đây: Liệu thuật ngữ “lưỡng cực” có đúng đắn về mặt y học không và liệu việc thay đổi tên gọi có làm tăng sự thừa nhận của xã hội so với chứng bệnh này hay không? Trả lời cho vấn đề thứ nhất, liên quan tới sự đúng đắn: Thuật ngữ “lưỡng cực” là đúng đắn khi chỉ một người vừa mắc bệnh điên (hay dạng nhẹ của bệnh điện) vừa mắc chứng trầm cảm, để phân biệt với những người chỉ mắc bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, việc phân loại bệnh rối loạn tâm thần thành lưỡng cực và đơn cực, với hàm ý phân biệt giữa bệnh trầm cảm và hưng trầm cảm – xét cả về mặt điều trị lẫn nguyên nhân bệnh học – thì lại không phải lúc nào cũng rõ ràng và không được hậu thuẫn về mặt khoa học. Tương tự như vậy, nó làm cho người ta hiểu rằng trầm cảm tách hẳn ra ở một cực riêng và điện tồn tại độc lập ở một cực khác. Cách phân cực hại tình trạng bệnh lý này đi trái lại với toàn bộ những gì tất cả chúng ta đã biết về bản chất dao động của bệnh hưng – trầm cảm; nó bỏ qua một thắc mắc vẫn được đề ra là phải chăng bệnh điên, xét đến cùng, chỉ là một hình thức cực điểm của bệnh trầm cảm; và nó cũng làm lu mờ tầm trọng yếu của hiện tượng pha trộn giữa điên – và – trầm cảm, điều thường xảy ra và có ý nghĩa vô cùng trọng yếu trong điều trị, đồng thời cũng là cốt lõi của nhiều vấn đề lý luận trọng yếu liên quan tới chứng bệnh này.

Tuy nhiên, một thắc mắc khác cũng được đề ra là phải chăng cách phân biệt lại bệnh thần kinh chỉ đơn thuần được bắt nguồn từ sự thay đổi của từ ngữ, hay do đòi hỏi của dư luận; hay xuất phát từ các biện pháp điều trị thành công, như sử dụng Lithi, thuốc chống co giật, thuốc chống suy nhược và thuốc chống loạn thần kinh; hay được bắt nguồn không chỉ từ các biện pháp điều trị thành công, mà trong chừng mực nào đó còn phản ánh cả ý kiến của dư luận và tạp chí (ví dụ như thúc đẩy của Prozac tới ý kiến và sự hiểu biết của công chúng về bệnh trầm cảm ví dụ); hay xuất phát từ việc phát xuất hiện những nguyên nhân về gien hay sinh học của bệnh thần kinh; hay bắt nguồn từ những tiến bộ của kỹ thuật chụp hình não, như PET hay MIR, giúp tất cả chúng ta xác nhận được vị trí và sự tồn tại rõ ràng của bệnh này bằng hình ảnh; hay xuất phát từ những tiến bộ của kỹ thuật thử máu mà cuối cùng đã làm tăng độ tin cậy về mặt y học so với việc chẩn đoán và điều trị những chứng bệnh tâm lý; hay bắt nguồn từ các bộ luật, ví dụ như Luật đối xử với người tàn tật; và từ kết quả của các chương trình đổi mới y tế. Thái độ của công chúng so với các bệnh thần kinh đang thay đổi, cho dù lãnh đạm, và những thay đổi đó bắt nguồn từ sự phối hợp của các nhân tố – điều trị thành công, tư vấn và pháp luật.

Các tổ chức tư vấn bảo vệ sức khoẻ thần kinh đa số bao gồm các người bệnh, các thành viên trong nhà họ và các Chuyên Viên về sức khoẻ thần kinh. Họ có thúc đẩy một cách hiệu quả tới việc hướng dẫn dư luận, tạp chí, các chính quyền bang và chính phủ trung ương. Mặc dù hình thức hoạt động và mục tiêu khác nhau, nhưng các tổ chức này đã trợ giúp trực tiếp cho hàng chục nghìn người bệnh và gia đình họ; nâng thượng hạng độ chăm sóc y tế trong cộng đồng, thông qua việc đòi các nhà tâm lý và tâm thần học phải kiên trì điều trị và tôn trọng người bệnh, nếu không sẽ bị tẩy chay; và vận động các nghị sỹ quốc hội (mà nhiều người trong số họ đã từng mắc bệnh rối loạn tâm thần hoặc có các thành viên trong nhà họ mắc bệnh tâm thần) tăng ngân sách cho các chương trình phân tích, đòi quyền đồng đẳng cho những người mắc bệnh tâm thần và thông qua các đạo luật cấm phân biệt đối xử về việc làm và bảo hiểm so với những người mắc bệnh tâm thần. Các tổ chức này cùng với các nhà khoa học và các bác sỹ điều trị – đã làm cho cuộc sống của toàn bộ những người mắc bệnh tâm thần tất cả chúng ta trở nên thoải mái hơn, cho dù tất cả chúng ta tự gọi mình là điện, hay viết thư phản đối những người gọi chứng bệnh này là điên. Nhờ có họ mà nay tất cả chúng ta đã có thể thảo luận một cách thoải mái về những điểm mạnh của ngôn từ liên quan đến tình trạng của chính tất cả chúng ta và của con người.

Đường xoắn rắc rối

Ngồi trên chiếc ghế, mà có thể đơn giản chuồn ra cửa sau của phòng họp, Jim Watson vặn vẹo chân tay, nhìn chằm chú, soi mói, rồi lại liếc nhìn đi nơi khác và ngáp dài. Những ngón tay của ông đan kết vào nhau đặt trên đầu liên tục gõ nhịp. Sự Note của ông thường xuyên thay đổi, từ những dữ liệu đang được trình bày trên hội trường, đến tờ Thời báo New York trên tay, hay thả mình theo những tư duy viển vông của chính mình. Jim không biết giả vờ Note, nếu như ông thấy chán, nhưng cũng khó có thể biết Jim có thực sự quan tâm tới vấn đề khoa học đang được trình bày – gien và sinh học phân tử của bệnh hưng – trầm cảm – hay đang nghĩ tới các vấn đề chính trị, những chuyện tầm phào, tình yêu, các nhà tài trợ tiềm tàng cho Phòng thử nghiệm Cold Spring Harbor, tới thiết kế, quần vợt, hay bất kì thứ gì mà ông đang quan tâm vào thời điểm ấy. Jim là một người mạnh mẽ và rất thẳng thắn. So với tôi, ông là một người tuyệt vời và mê hoặc. Jim là một người rất độc lập và trong toàn cầu đang ngày càng nhạt nhẽo này ông thực sự là một chú ngựa vằn trong đàn ngựa. Người ta có thể lập luận rằng một khi đã giành giải thưởng Nobel nhờ những đóng góp vào việc phát xuất hiện cấu trúc của cuộc sống, thì tính độc lập và mới mẻ của ông cũng là dễ hiểu, nhưng rõ ràng là chính những phẩm chất – mạnh mẽ, đối đầu, giàu trí tưởng tượng và không đồng ý thần tượng–đã xúc tiến ông theo đuổi việc phân tích cấu trúc của DNA.

Jim là con người đầy sinh lực. Những bước đi của ông, cả về tri thức lẫn thực tiễn, là không dễ gì theo kịp, và việc nỗ lực theo ông, trong các cuộc thảo luận bên bàn ăn, hay khi đi bách bộ trong sân của Phòng thử nghiệm Cold Spring Harbor đều rất khó khăn. Vợ ông vẫn nói rằng bà có thể biết Jim ở nhà hay không chỉ đơn thuần bằng mức độ năng lượng mà bà cảm thu được trong không khí. Bất kể ông là một con người như vậy nào, thì trước hết và trên hết, ông là một nhà lãnh đạo khoa học. Cho tới rất gần đây ông vẫn là giám đốc của một trong những phòng thử nghiệm sinh học phân tử hàng đầu toàn cầu, Phòng thử nghiệm Cold Spring Harbor và là giám đốc trước nhất của Trung tâm quốc gia về phân tích gien người. Vài năm qua, ông chuyển sang quan tâm phân tích vai trò của gien trong bệnh hưng – trầm cảm.

Do sự hiểu biết của khoa học về bệnh hưng-trầm cảm phụ thuộc rất nhiều vào sinh học phân tử, nên tôi đã dành ngày càng nhiều thời gian cho ngành nghề này. Này là một toàn cầu kỳ lạ, phát triển xung quanh sự phối hợp không bình thường của các loại thực vật và động vật – ngô, ruồi giấm, men bia, chuột, người và cá – và chứa đựng những điều kỳ lạ, tiến hoá rất nhanh và thỉnh thoảng lại làm nảy sinh những thuật ngữ mới, nghe như từ ngữ thơ ca vậy, như “sinh sản vô tính”, “biến đổi gien”, “ba đường xoắn ốc”, “DNA cởi trói”, “chất thử kamikaze”, “nhiễm sắc thể lang thang”, “kẻ săn tìm gien” và “bản đồ gien”. Rõ ràng đây là ngành nghề phân tích nền tảng cơ bản nhất của tri thức và tìm hiểu sự tương thích về mặt sinh học giữa vi lượng và hạt cơ bản.

Hội nghị mà Watson nhìn chú tâm, vặn vẹo chân tay và ngáp dài là hội nghị chuyên mục về nền tảng gian của bệnh hưng-trầm cảm. Hội nghị tập trung các nhà tâm lý học, các nhà phân tích gian và các nhà sinh học phân tử, những người đang tham gia một cách tích cực, bằng phương pháp này hay cách khác, vào việc phân tích vai trò của gien trong bệnh hưng-trầm cảm. Hội nghị là dịp để các nhà phân tích chia sẻ thông tin với nhau về phương pháp phân tích, về những phát hiện của họ và về huyết thống gian của các dòng tộc có người mắc bệnh. Phả hệ từ đời này đến đời khác được chiếu lên màn ảnh; có những dòng tộc chỉ có rất ít thành viên mắc bệnh, trong lúc có những dòng tộc có rất nhiều hình vuông và hình tròn bị bôi đen hoàn toàn, ám chỉ những người đàn ông, hay đàn bà trong họ tộc đó bị mắc bệnh hưng-trầm cảm. Những hình tròn hay hình vuông bội đen một nửa chỉ những người mắc bệnh trầm cảm và những chữ “s”, dấu nhân hay dấu gạch chéo chỉ những người đã từng có ý định tự tử. Mỗi hình đen hoặc đen một nửa chỉ một người đã từng có những thời kỳ điện năng. Những gia tộc có nhiều hình vuông hay hình tròn đen hoàn toàn lại chính là những dòng tộc cho nhiều thông tin hữu ích về gien hơn. Nhìn quanh hội trường, tôi có cảm nghĩ rằng trong các nhà khoa học này, và nơi nào đó trong các dòng tộc này, người ta sẽ tìm thấy vị trí của gien hay những gien gây bệnh hưng – trầm cảm. Đó sẽ là điều tuyệt vời, bởi vì một khi những gian này được xác nhận, thì sau đó sẽ là khả năng chẩn đoán sớm và đúng đắn hơn nhiều và cuối cùng là các biện pháp điều trị rõ ràng hơn, an toàn hơn và ít gây tác dụng phụ hơn nhiều.

Phần chiếu phim đèn chiếu kết thúc, màn ảnh được kéo lên và tôi nhìn ra ngoài, phía sau Jim Watson. Xa xa những cây táo làm cho tôi nhớ lại chuyến hành trình xuôi dòng Mississippi nhiều năm về trước. Mogens Schou, nhà tâm lý Đan Mạch, người tiên phong trong nỗ lực truyền bá Lithi như một biện pháp điều trị bệnh hưng – trầm cảm, đã cùng tôi quyết định bỏ một ngày họp của hội nghị hàng năm của Hiệp hội Tâm thần Mỹ để tranh thủ tham quan, nhân dịp tới New Orleans. Chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là bơi thuyền xuôi dòng sông Mississippi. Này là một ngày tuyệt vời và sau thời điểm thảo luận với nhau về nhiều đề tài khác nhau, Mogens quay sang hỏi thẳng tôi: “Tại sao cô lại thực sự quan tâm tới việc nghiên cứu bệnh rối loạn tâm thần?”. Chắc khi đó tôi đã sững người và lúng túng, như tôi cảm thấy thế, nên ông đã thay đổi chiến thuật và nói: “Tại sao tôi lại không nói cho cô biết lý do tôi nghiên cứu bệnh rối loạn tâm thần nhỉ?”. Thế là ông kể cho tôi nghe về bệnh trầm cảm và bệnh hưng-trầm cảm trong nhà ông, về những tổn thất mà nó gây ra và cũng chính vì điều này mà nhiều năm trước ông đã miệt mài tìm kiếm các loại thuốc và phương pháp mới điều trị bệnh tâm thần. Khi bài báo của John Cade về sử dụng Lithi để điều trị bệnh điện năng xuất hiện lần trước nhất trên một tạp chí y học tin cậy của Ôxtrâylia năm 1949, Mogens đã chộp lấy ý tưởng đó và ngay nhanh chóng bắt tay vào quá trình trải nghiệm nghiêm túc về mặt y học để nhất định hiệu quả và độ an toàn của loại thuốc này. Ông kể một cách khá thoải mái về lịch sử mắc bệnh thần kinh trong nhà mình và nhấn mạnh rằng đó chính là động cơ cá nhân mạnh mẽ xúc tiến toàn bộ các công trình phân tích của ông. Ông ám chỉ một cách rõ ràng rằng ông nghi mối liên hệ của tôi với bệnh hưng – trầm cảm cũng là vì động cơ cá nhân tương tự.

Tôi có cảm nghĩ như bị mắc bẫy, nhưng cũng thấy nhẹ người. Tôi quyết định thành thật kể cho ông nghe về bản thân và gia đình. Sau đó, cả hai chúng tôi cùng vẽ phả hệ lên giấy ăn. Tôi ngạc nhiên khi thấy trong phả hệ của mình có quá nhiều hình vuông và hình tròn được bôi đen, hoặc được bôi đen cùng với một dấu hỏi ở dưới (ví dụ tôi biết em trai của ông nội tôi đã phải sống hầu hết toàn thể quãng đời trưởng thành của mình trong nhà thương điên, nhưng không biết đúng đắn ông được chẩn đoán mắc bệnh gì). Bệnh hưng – trầm cảm đã thường xuyên lặp lại trong ba thế hệ mà tôi biết trong nhà bố tôi. Những dấu hoa thị, ám chỉ người đã từng có ý định tự tử, dầy đặc như khung trời sao. Trong lúc đó, phả hệ bên mẹ tôi lại sạch bong. Có vẻ là không tiện lắm khi so sánh sự khác biệt về bản chất con người giữa bố và mẹ tôi, nhưng đây là một ví dụ rất rõ ràng về sự khác biệt giữa họ, và được trổ tài rất rõ ràng bằng sự tương phản giữa màu trắng và đen. Mogens, sau thời điểm phác thảo xong phả hệ của mình, liếc nhìn số thành viên bị mắc bệnh trong nhà tôi, đã cười lớn và thừa nhận bị thua trong “trận chiến của những chiếc hộp đen”. Ông để ý thấy rằng vòng tròn ám chỉ tôi được bôi đen toàn thể và có một dấu hoa thị cạnh đó – thật tuyệt vời khi có thể biểu thị mưu toan tự tử của một người chỉ bằng một dấu hiệu đơn giản! Sau đó, chúng tôi trò chuyện với nhau rất lâu về bệnh tình của tôi, về Lithi và những tác dụng phụ của nó và về ý định tự tử của tôi.

Buổi trò chuyện với Mogens vô cùng hữu ích, . một phần vì ông đã rất khuyến khích tôi mang những trải nghiệm của chính mình vào các công trình phân tích, vào các nội dung và giảng dạy, và một phần vì tôi được trò chuyện với một giáo sự thượng hạng, người không chỉ thấu hiểu những gì tôi đã trải qua, mà đang là người đã từng sử dụng những kinh nghiệm của chính mình để tạo ra sự khác biệt to lớn cho cuộc sống của hàng trăm nghìn người, trong đó có chính bản thân tôi. Bất kể trận chiến của tôi với Lithi ra sao, điều vô cùng rõ ràng so với tôi là nếu không có nó, tôi có thể đã chết từ lâu, hoặc đang bị nhốt trong khoa tâm thần của phòng khám bang. Tôi là một trong nhiều người mà cả cuộc sống mình chịu ơn những hình vuông và hình tròn màu đen trong cây phả hệ của Schou.

Do hưng – trầm cảm là một chứng bệnh do gien gây ra, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi nó tạo ra những trạng thái tâm lý vô cùng phức tạp và thường là khó tính. Một trong những cực điểm của chứng bệnh là nó làm cho người ta có cảm nghĩ vô cùng xấu hổ và tội lỗi. Nhiều năm trước đó khi sống ở Los Angeles, tôi đã tới văn phòng của một bác sỹ khám bệnh, theo lời khuyên của một đồng nghiệp. Sau khoảng thời gian khám cho tôi và phát xuất hiện rằng tôi đã sử dụng Lithi trong nhiều năm, ông liền hỏi một loạt thắc mắc về lịch sử bệnh thần kinh của tôi. Ông cũng hỏi tôi có ý định có con không. Cho tới thời điểm ấy, nói chung là tôi luôn được các bác sỹ điều trị bằng cả trí thông minh lẫn sự thông cảm, nên không có nguyên nhân gì để tôi không nói thẳng lịch sử bệnh điện và trầm cảm kéo dài của mình. Tuy nhiên, tôi cũng nói rõ rằng tôi là người “có phản ứng tốt với Lithi” và tôi rất muốn có con. Ngay nhanh chóng, ông ta hỏi lại tôi rằng tôi sẽ xử lý thế nào về việc uống Lithi trong thời kỳ mang thai. Tôi nói với ông ta rằng tôi thấy rất rõ việc không uống Lithi sẽ nguy hiểm tới chứng bệnh của tôi hơn nhiều so với những tác dụng mà nó có thể gây ra cho sự phát triển của thai nhi, nên tôi sẽ tiếp tục uống Lithi. Tuy nhiên, khi tôi chưa nói hết câu, ông ta đã xen vào và hỏi tôi có biết hưng – trầm cảm là một chứng bệnh do gien gây ra hay không. Máu như bốc lên đầu và tôi cảm thấy cần phải nói cho ông ta biết rằng tôi đã dành hầu hết toàn thể cuộc sống sự nghiệp của mình vào phân tích chứng hưng – trầm cảm và theo bất kì tiêu chuẩn nào tôi cũng không phải là kẻ ngu xuẩn. Tôi nói: “Tất nhiên là tôi biết”. Đúng lúc đó, bằng một giọng lạnh băng và hống hách mà tôi chưa từng nghe thấy cho tới tận ngày nay, ông ta tuyên bố: “Cô không nên có con. Cô đã bị mắc chứng hưng – trầm cảm”.

Tôi cảm thấy buồn nôn, rất chướng tai và vô cùng xấu hổ. Với quyết tâm kháng cự lại việc bị đẩy vào tình huống buộc con người ta phải có những phản ứng vô lý, tôi hỏi phải chăng mối quan tâm của ông ta về việc tôi có con hay không xuất phát từ ý nghĩ rằng với chứng bệnh của mình, tôi không thích hợp để làm mẹ, hay chỉ đơn giản vì ông ta nghĩ rằng tốt nhất là không nên sản sinh thêm một người mắc bệnh hưng – trầm cảm nữa cho toàn cầu. Không hiểu ông ta cố ý phát lờ, hay không nhận thấy sự châm chọc của tôi, ông ta đáp: “Cả hai”. Tôi liền yêu cầu ông ta ra khỏi phòng, mặc nốt quần áo vào, gõ cửa phòng làm việc của ông ta, của ông ta một câu, rồi bỏ đi. Tôi sang bên kia đường, tới chiếc xe của tôi, ngồi xuống, người run lên và nức nở, cho tới khi mệt lả. Tàn nhẫn có nhiều hình thức và những gì ông ta đã làm với tôi không chỉ là tàn nhẫn, mà còn không có tính chuyên môn và dốt nát nữa. Nó đã gây ra những tổn hại lâu dài, giống như một vết cắt nhanh và rất sâu vào trái tim tôi vậy.

Thật kỳ lạ, tôi không có con, nhưng không phải vì tôi mắc chứng hưng – trầm cảm. Ngay cả trong những lúc suy sụp nhất, tôi cũng chưa khi nào thấy tiếc nuối vì mình đã sinh ra trong cuộc sống. Quả thực là tôi đã từng muốn chết, nhưng điều đó hoàn toàn khác với sự tiếc nuối vì mình đã được sinh ra. Nhìn một cách tổng thể, tôi rất sung sướng vì mình đã được sinh ra, tri ân cuộc sống và tôi không thể nghĩ tới việc sẽ chuyển nhượng cuộc sống này lại cho một ai đó. Suy xét mọi chuyện, tôi thấy mình đã có một cuộc sống tuyệt diệu – cho dù không ổn định và thỉnh thoảng kinh khủng. Tất nhiên, tôi cũng từng từng có những mối quan tâm rất nghiêm túc: Vì sao người ta lại không thể có con? Vì sao một người, ví dụ như tôi, lại không thể chăm sóc con mình một cách chu đáo? Chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nếu như tôi rơi vào trầm cảm nặng? Điều đáng sợ hơn nhiều là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng khi tôi bị điên, khi tôi mất khả năng suy xét và tôi trở thành một con người bạo lực không kiểm tra được? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi phải chứng kiến những đứa con của mình vật lộn với chứng trầm cảm, suy sụp, vô vọng, hoặc điên, nếu chúng bị nhiễm bệnh? Liệu tôi có săm soi, coi những triệu chứng hay sai lầm trong phản ứng thông thường của chúng như là dấu hiệu của bệnh tật? Toàn bộ những chuyện này đã được tôi nghĩ tới hàng nghìn lần, nhưng chưa khi nào tôi nghi ngờ việc mình nên có con. Bỏ mặc thái độ máu lạnh của viên bác sỹ mà tôi đã tới khám bệnh, người đã bảo tôi không nên có con, tôi sẽ vẫn rất sung sướng nếu có đầy một nhà con, như tôi và David đã từng dự liệu. Tuy nhiên, mọi chuyện đã không xảy ra theo hướng đó: David đã chết, trong lúc Richard – người đàn ông duy nhất tôi muốn có con cùng, sau thời điểm David từ trần – thì lại đã có tới ba đứa con trong lần hôn phối trước.

Không có con là điều đáng tiếc lớn nhất trong đời tôi. Tuy nhiên, rất may là tôi có hai cháu trai và một cháu gái – đứa nào cũng tuyệt vời và khá thành công trong cuộc sống – và khỏi cần phải nói, tôi đã có mối quan hệ rất tốt với chúng. Làm cô là một điều tuyệt vời, nhất là khi các cháu là những người biết tư duy, độc lập, chín chắn, khôi hài, thông minh và giàu trí tưởng tượng. Khó có thể tìm thấy được điều gì đó không tuyệt vời trong quan hệ với chúng. Những đứa cháu trai, giống như bố chúng, quan tâm tới phân tích toán học và kinh tế. Chúng là các chàng trai trẻ trầm lặng, hóm hỉnh, có tư duy độc lập, nhã nhặn và đẹp trai. Còn cô cháu gái của tôi thì còn rất trẻ, nay mới có mười một tuổi, nhưng đã giành giải thưởng quốc gia về văn và rất quyết tâm trở thành một nhà văn. Người ta thường thấy cháu quấn tròn trên ghế, viết nguệch ngoạc một cái gì đó, hỏi mọi người về từ ngữ và con người, chăm sóc đủ loại vật nuôi trong nhà, hay nhanh nhẹn lên tiếng trước để bảo vệ chính kiến của mình trong các cuộc trò chuyện của gia đình. Cháu là một người sôi nổi, nhạy cảm, mới mẻ và luôn có khả năng bảo vệ ý kiến của mình trước một tập thể gia đình toàn những người ăn nói lưu loát, gồm hai anh, bố mẹ và những người lớn khác. Tôi không thể hình dung ra khoảng trống kinh khủng tới mức nào trong cuộc sống mình nếu như tôi không có ba đứa cháu này.

Mặc dù tôi luôn ủng hộ những nỗ lực tìm thấy gien gây bệnh hưng – trầm cảm, nhưng điều mà tôi quan tâm là việc tìm thấy những gian này sẽ có tác dụng như vậy nào. Rõ ràng là việc chẩn đoán tốt hơn, sớm hơn và rõ ràng hơn, nhờ các công trình phân tích gien, sẽ dẫn tới những phương pháp điều trị ít gây phiền toái hơn, nhờ này mà nó mang lại những lợi nhuận vô cùng to lớn cho các người bệnh hưng – trầm cảm, cho gia đình họ và cho xã hội nói chung. Những lợi nhuận này sẽ đến, vấn đề chỉ đang là thời gian. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra trong các cuộc xác minh chẩn đoán thai nhi? Liệu những người sắp làm bố, làm mẹ có sẵn sàng từ bỏ thai nhi mang theo gien của bệnh hưng-trầm cảm, ngay cả khi chứng bệnh này có thể chữa trị được? (Điều thú vị là trong một cuộc điều tra gần đây của Trường Đại học Johns Hopkins, trong đó người ta đã hỏi các ông bố, bà mẹ mắc chứng hưng – trầm cảm và vợ hoặc chồng của họ, về việc họ có từ bỏ thai nhi bị nhiễm bệnh không, thì kết quả cho thấy chỉ có rất ít người nói sẵn sàng từ bỏ). Liệu tất cả chúng ta có sẵn sàng làm cho toàn cầu này trở nên nhạt nhẽo hơn, đồng nhất hơn, bằng cách loại bỏ những gien gây bệnh hưng – trầm cảm – một vấn đề khoa học rõ ràng là vô cùng phức tạp? Điều gì sẽ xảy ra với những người đồng ý rủi ro hưng trầm cảm, để cùng những người khác trong xã hội không ngừng xúc tiến sự phát triển của văn nghệ, doanh nghiệp, chính trị và khoa học? Liệu những người mắc bệnh hưng – trầm cảm có trở thành “những loài có nguy cơ tuyệt chủng”, giống như cú đốm hay báo xám?

Đây là vấn đề đạo lý rất khó khắc phục, nhất là khi bệnh hưng – trầm cảm có thể tạo ra những lợi thế nhất định cho cá nhân người bệnh và cho xã hội. Chứng bệnh này, ở cả dạng nặng và nhẹ, rõ ràng là đã chứng tỏ những lợi thế của nó, không chỉ thông qua quan hệ với tâm trạng và trí tưởng tượng nghệ sỹ, mà còn thông qua những thúc đẩy tới rất nhiều nhà khoa học, doanh nghiệp, tôn giáo, quân sự và chính trị nổi tiếng. Nó cũng có những thúc đẩy khó thấy hơn – như tới cá tính, lối tư duy và sự năng động – bởi vì đây là chứng bệnh thường có những triệu chứng rất khác nhau về tâm trạng, thái độ và nhận thức. Tình hình còn phức tạp hơn, do ngoài gien ra, các nhân tố về sinh hoá và môi trường (như phơi nắng quá lâu hoặc ánh sáng thay đổi quá nhiều, mất ngủ dài, sinh con, sử dụng ma tuý hay uống rượu) cũng đóng góp một phần, cả vào việc gây bệnh, lẫn thúc đẩy tới tâm trạng của những người thành đạt. Các vấn đề khoa học và đạo lý này là có thật và rất may là nó đang được Dự án Gien của chính quyền liên bang, các nhóm khoa học và các nhà đạo đức xem xét một cách tích cực. Tuy nhiên, đây là vấn đề vô cùng phức tạp và nó sẽ đang là như vậy trong nhiều năm tới.

Khoa học tuyệt vời ở chỗ nó luôn đề ra những vấn đề mới, sau thời điểm đã khắc phục được các vấn đề cũ. Khoa học phát triển rất nhanh, thường là tuyệt vời, và cùng với sự phát triển đó, nó tạo ra biết bao kỳ vọng.

Ngồi trên chiếc ghế cứng, bất tiện – vốn là một đặc trưng của các hội nghị y học – tôi như lãng quên toàn cầu. Đầu óc tôi như hơi bị thôi miên bởi tiếng lách cách chuyển hình ảnh của phim đèn chiếu. Mắt tôi vẫn mở, nhưng đầu óc tôi như đung mang nhẹ nhõm trên cánh võng, ở tít tận góc xa của trí não. Trong lúc phòng họp vừa tối vừa ngột ngạt, thì ở bên ngoài lại rất đẹp và tuyết đang rơi. Tôi cùng một nhóm đồng nghiệp đang ở vùng núi Colorado và cho dù mỗi người theo đuổi một tư duy riêng, toàn bộ chúng tôi đều trượt tuyết; tuy nhiên, đồng thời đó, hơn một trăm bác sỹ vẫn đang ngồi trong phòng họp và tiếng lách cách của phim đèn chiếu vẫn vang lên điều độ. Tôi lại nghĩ, có vẻ là hàng trăm lần, rằng điện không nhất thiết phải ngu xuẩn và nếu vậy thì tôi ở trong này làm quái gì, mà không ra ngoài kia trượt tuyết? Đột nhiên tai tôi vểnh lên. Một giọng nói tẻ nhạt đang lầm bầm “cập nhật thông tin về những kết cấu không bình thường ở não trong bệnh lưỡng cực”. Trí não có kết cấu không bình thường của tôi đột nhiên rất tập trung và một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Giọng lầm bầm ấy tiếp tục: “Ở các bệnh nhân lưỡng cực mà chúng tôi nghiên cứu, số lượng các điểm có cường độ tín hiệu cao (những khu vực tập trung nhiều nước hơn) tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy có thể có những tế bào không bình thường. Đây chính là cái mà một số nhà thần kinh học gọi là “những vật thể sáng chưa xác định” hay UBO”. Cả hội trường cười vang.

Tôi, người không muốn mất thêm bất kì một tế bào não nào nữa – chỉ có Chúa mới biết bao nhiều chất xám của tôi đã vượt Suối Vàng trong lần tôi suýt chết vì dùng Lithi quá liều – cũng cười, nhưng không nhiệt tình lắm. Diễn giả vẫn tiếp tục: “Ý nghĩa y học của những UBO này hiện vẫn chưa rõ, nhưng chúng tôi biết rằng chúng có liên quan tới một số hiện tượng khác, như bệnh Alzheimer, đa xơ cứng và suy giảm trí tuệ”. Tôi đã đúng, lẽ ra tôi nên ra ngoài trượt tuyết. Tuy nhiên, cưỡng lại những phán xét của mình, đầu tôi vẫn hướng về phía màn ảnh phim đèn chiếu. Này là những hình ảnh có sức hút khá mạnh và tôi bị cuốn theo những hình ảnh cụ thể đến không ngờ về cấu trúc của trí não, nhờ kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) tiên tiến nhất. Này là kỹ thuật chụp não cho hình ảnh vừa đẹp vừa sắc nét, nhất là những bức ảnh MRI có độ sắc nét cao và những bức ảnh chụp cắt lớp (PET) nhiều màu rất đẹp. Ví dụ với PET, khi phiền muộn, trí não có hình ảnh tĩnh, màu xanh sẫm và lạnh, màu tía sẫm hay màu xanh lá cây, trong lúc cũng trí não đó khi hưng phấn lại sáng lên như cây thông đêm Giáng sinh vậy, với những đốm sáng đỏ, vàng và màu cam rất rõ. Chưa khi nào sắc màu và cấu trúc của trí não lại trổ tài một cách đầy đủ tâm trạng hướng nội và rét mướt chết người của hiện tượng trầm cảm, và tâm trạng hứng thú, rung động và sự can hệ tích cực của bệnh điên đến thế.

Tôi thực sự phấn khích trước nền khoa học thần kinh hiện đại, nó vừa lãng mạn trong tìm tòi, vừa làm nảy sinh những hướng phân tích mới. Này là nghề khoa học thanh lịch, với các nhà phân tích còn rất trẻ, nhưng vận tốc phát hiện vấn đề của nó lại rất tuyệt vời. Giống như các nhà sinh học phân tử, những người chẩn đoán não bằng hình ảnh hiểu rõ mặt trận khác thường mà họ đang vượt qua và nó đang làm cho những người có đầu óc trống rỗng và trái tim đá trở nên lạc lõng trước tập thể những người mạnh dạn và đầy hưng phấn.

Mặc dù rất thích thú với nghề khoa học này, tôi vẫn đắn đo tự hỏi không hiểu sự hưng phấn cao trong não là nguyên nhân hay thúc đẩy của bệnh, và vấn đề này có rõ ràng thêm theo thời gian hay không; sự hưng phấn đó nằm vị trí nào trong trí não và liệu nó có liên quan gì tới khó khăn định hướng và nhận dạng mà tội và nhiều người mắc bệnh hưng trầm cảm thường gặp phải hay không; và liệu não của những đứa trẻ có rủi ro mắc bệnh hưng – trầm cảm, do bố, mẹ hoặc cả hai mắc bệnh này, những dấu hiệu trên có trổ tài trước khi chúng phát bệnh hay không. Khía cạnh bác sỹ điều trị trong tâm trí tôi khởi đầu nghiền ngẫm về những lợi thế của nghề chẩn đoán bằng hình ảnh và những phát hiện bằng hình ảnh để thuyết phục những người bệnh còn nghi hoặc của tôi rằng (a) họ có một trí não, (b) trạng thái tâm lý của họ có liên quan tới não, và (c) nếu không uống thuốc đúng theo đơn nó có thể gây ra những tổn hại về não. Những suy ngẫm này đã kéo tôi ra khỏi cuộc họp trong giây lát, khi nó thay đổi từ góc độ của một người bệnh hưng-trầm cảm tới vai trò của một nhà chuyên môn đang phân tích và điều trị chứng bệnh này. Nhưng rồi cuối cùng những mối quan tâm và đắn đo của cá nhân tôi đã trở lại.

Khi trở lại Trường Đại học Johns Hopkins, nơi tôi đang dạy học, tôi đã rất tích cực tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp đang phân tích về thần kinh học và các đồng sự đang phân tích về MRI. Tôi lao tới thư viện để đọc toàn bộ những gì liên quan. Cuối cùng, nó chỉ nhất định cái đã được người ta xác nhận, này là chứng bệnh này nằm ở não, và đây chỉ là cách khác để nhìn thấy điều ấy mà thôi. Tiêu đề của những nội dung này đã hé mở nội dung của nó, như “Khối lượng hạch cơ bản và chất trắng kích thích cao ở những bệnh nhân mắc bệnh lưỡng cực”, “Cấu trúc não không bình thường ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực: Não thất to và tín hiệu kích thích tập trung cao”, “Phát hiện sự không bình thường ở vỏ não của bệnh nhân rối loạn lưỡng cực bằng phương pháp chụp cộng hưởng từ”, vận vân và vân vân. Tôi ngồi xuống và đọc toàn bộ. Một công trình phân tích đã phát xuất hiện rằng “trong 32 bệnh nhân hưng-trầm cảm được chẩn đoán bằng hình ảnh, 11 người (34,4%) có hình ảnh kích thích cao, trong khi chỉ có 1 người (3,2%) trong nhóm người bình thường để so sánh, có hình ảnh không bình thường như vậy”.

Tôi phớt lờ cái gọi là “nhóm người bình thường để so sánh” này và đọc tiếp. Tôi phát xuất hiện rằng giống như điều vẫn thường xảy ra trong các ngành nghề y học mới, nó đã làm nảy sinh nhiều thắc mắc hơn là những gì nó trả lời được và cũng chưa biết những phát hiện này sẽ có ý nghĩa gì: chúng có thể bắt nguồn từ những sai sót trong tính toán, có thể là kết quả của quá trình điều trị hay kiêng cữ, chúng cũng có thể xuất phát từ một nguyên nhân nào đó hoàn toàn không liên quan gì tới bệnh hưng – trầm cảm và cũng có thể vì nhiều nguyên nhân khác. Tuy nhiên, điều rất kỳ quặc là UB0 hình như có một ý nghĩa nào đó.

Và sau thời điểm đọc hàng loạt bài phân tích này, tôi cảm thấy tự tin hơn và ít hoảng sợ hơn. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học quả là đã tạo ra niềm kỳ vọng và nếu những thay đổi trong cấu trúc não quả thực có ý nghĩa, thì tôi rất sung sướng, vì nó đang được các nhà phân tích hàng đầu mổ xẻ chúng. Nếu không có khoa học, tất cả chúng ta sẽ không có được những niềm kỳ vọng ấy. Hoàn toàn không có kỳ vọng.

Và cho dù thế nào chăng nữa, nó cũng từng tạo ra ý nghĩa mới cho khái niệm mất trí.

Đặc ân điều trị

Việc nói cho người khác biết rằng mình đang mắc chứng hưng – trầm cảm là chẳng đơn giản gì; còn nếu nó đơn giản thì quả thật là tôi chưa phát xuất hiện. Mặc dù hầu như những người mà tôi thông báo về bệnh tình của mình là những người hiểu biết – và một số rất thấu hiểu – tôi vẫn bị ám ảnh trước những phản ứng tàn nhẫn, hạ cố hoặc thiếu sự thông cảm. Vì vậy, ý nghĩ thông báo bệnh tình của mình ở một diễn đàn công khai vẫn là điều không thể tưởng tượng được so với tôi. Sự ngần ngại này phần lớn là vì nguyên nhân chuyên môn, nhưng trong chừng mực nào đó còn vì phản ứng tàn nhẫn có chủ ý và những phản ứng khác từ các đồng nghiệp mà tôi bí mật kể cho nghe. Đó chính là điều làm cho tôi cay đắng nghĩ tới như là “Nhân tố Tim chuột”.

Tim Chuột (Mouseheart) là một đồng nghiệp cũ của tôi ở Los Angeles, người mà tôi đã từng nghĩ là bạn. Anh ta là một nhà phân tích tâm lý và tôi thường có thói quen đi uống cà phê sáng với anh ta. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng vui vẻ đi ăn trưa cùng nhau và trò chuyện về công việc và cuộc sống của chúng tôi. Sau một thời gian tôi khởi đầu có cảm nghĩ không thoải mái, điều tôi vẫn thường gặp khi quan hệ đồng bọn đạt tới một mức độ nhất định, nhưng tôi chưa nói gì cho họ biết về bệnh tình của mình. Nguyên nhân bởi đó không chỉ là một chứng bệnh, mà đang là nhân tố tác động đến toàn thể cuộc sống của tôi: tâm trạng, tính khí, công việc và phản ứng của tôi trước mọi chuyện xảy ra mỗi ngày. Nếu không nói về bệnh hưng – trầm cảm của tôi, dù chỉ thảo luận về nó một lần, thì tình bạn giữa chúng tôi chắc rằng sẽ chỉ dừng lại ở mức hời hợt ngoại hình. Sau một hơi thở sâu, tôi quyết định nói cho anh ta biết.

Khi đó chúng tôi đang ở một quán ăn sát bờ biển ở Malibu. Đó cũng là lúc tôi vừa trải qua một chu kỳ ngắn vừa điên, vừa suy sụp và định tự tử. Tôi dán mắt vào đống đá xa xa bên đại dương chờ phản ứng của anh ta. Quả là một sự chờ đợi kéo dài và rét mướt. Cuối cùng tôi nhìn thấy nước mắt chảy trên mặt anh ta. Tôi nghĩ này là phản ứng thái quá, nhất là khi tôi chỉ để lộ trạng thái điên ở mức nhẹ nhất và sự trầm cảm chỉ như một sự lãnh đạm. Dù vậy, tôi cũng vẫn cảm động trước việc anh ta hình như thấu hiểu những gian truân mà tôi phải trải qua. Tim Chuột lau nước mắt và nói, đơn giản là anh không tin điều đó và anh “vô cùng thất vọng”. Anh ta đã từng nghĩ rằng tôi là một người tuyệt vời và rất mạnh mẽ: Thế thì vì sao tôi lại có ý định tự tử được? Khi đó tôi nghĩ gì? Và này là hành động hèn nhát và ích kỷ.

Tôi hoảng sợ nhận thấy rằng anh ta đang nói rất nghiêm túc. Tôi như người chết đứng. Nỗi đau của anh khi biết tôi bị hưng – trầm cảm hình như còn tệ hại hơn chứng bệnh thực sự trong người tôi. Trong khoảng 1 đến 2 phút, tôi thấy mình giống như Typhoid Mary vậy. Sau đó tôi cảm thấy mình bị phản bội, vô cùng xấu hổ và hoàn toàn bị lột trần. Sự âu lo của anh quả là không có hạn chế. Anh hỏi, bằng một giọng nhỏ hẳn lại và với một mối quan tâm thực sự: Có thật tôi bị tâm thần không? Nếu thế, tôi có thực sự nghĩ rằng trong hoàn cảnh như vậy tôi vẫn có thể vượt qua được những sức ép của công tác phân tích hay không? Tôi nói với anh, qua hai hàm răng nghiến chặt, rằng trên thực tiễn tôi đã vượt qua sức ép đó trong nhiều năm. Tôi cũng chỉ cho anh thấy sự thật rằng tôi trẻ hơn anh rất nhiều, nhưng tôi đã thông báo nhiều công trình phân tích hơn anh ta. Quả thật là tôi không nhớ nhiều lắm về khoảng thời gian sót lại của bữa ăn trưa ấy, ngoại trừ này là một cực hình. Với một giọng mỉa mai, như để bỏ qua cho anh ta, tôi nói rằng anh không cần phải lo ngại, vì hưng – trầm cảm không phải là bệnh truyền nhiễm. Anh ta ngọ ngoạy trên ghế và nhìn đi nơi khác.

Sáng ngày tiếp theo, một bó hoa hồng đỏ được gửi tới phòng khám của tôi, kèm theo một lời xin lỗi. Này là một cử chỉ đẹp, tôi nghĩ, nhưng nó không làm dịu được vết thương do phản ứng của anh ta gây ra. Tôi hiểu sự bộc trực của anh hàm ý rằng anh là người bình thường, còn tôi thì không – và tệ hại nhất là câu nói chết người của anh ta: “Vô cùng thất vọng”.

Có rất nhiều nguyên nhân để tôi ngần ngại công khai bệnh hưng – trầm cảm của mình; có một số nguyên nhân cá nhân, nhưng phần lớn là vì nguyên nhân nghề nghiệp. Phần lớn các vấn đề cá nhân có thể được khắc phục nhờ quy định bảo vệ bí mật gia đình – nhất là khi chứng bệnh này được xem là do gien di truyền – và nhờ thói quen coi các vấn đề cá nhân là chuyện riêng tư. Tôi rất lo ngại, có thể là hơi quá mức, về việc mọi người sẽ nhận xét về tôi và công việc của tôi ra sao một khi biết tôi mắc chứng hưng – trầm cảm. Chỉ có một ranh giới rất nhỏ giữa ngu đần và “không thích hợp”- ôi một từ tệ hại – và cũng chỉ có một khoảng cách mong manh giữa sự mạnh mẽ và thậm chí có thể hơi bạo lực một tí, với cái được xem là “không ổn định”. Và cho dù vì bất kì nguyên nhân cá nhân phù phiếm nào, tôi vẫn lo sợ rằng ý định tự tử và sự trầm cảm của tôi sẽ bị một số người coi là yếu đuối hay “loạn thần kinh chức năng”. Trong chừng mực nào đó tôi sợ bị coi là yếu đuối và loạn thần kinh tính năng hơn là thỉnh thoảng bị rối loạn tâm thần. Cuối cùng, tôi rất sợ rằng sau thời điểm nói ra hay viết ra những khía cạnh rất riêng tư trong cuộc sống của mình, một ngày nào đó tái ngộ họ tôi sẽ bị họ tẩy chay. Là một người hay nói và nói năng rất tự do, tôi lo ngại rằng những trải nghiệm của mình sẽ trở nên xa vời, không thể với tới được và tụt lại quá xa ở phía sau. Tôi cũng lo ngại rằng những trải nghiệm đó sẽ trở thành của một ai đó, chứ không phải của chính mình.

Tuy nhiên, xét về bản chất, mối lo ngại lớn nhất của tôi là vì nguyên nhân nghề nghiệp. Ban đầu, đa số tôi sợ Ủy ban Xác minh Y tế California có thể không cấp giấy phép hành nghề cho tôi, nếu họ biết rằng tôi mắc chứng hưng – trầm cảm. Theo thời gian, tôi ngày càng ít lo ngại về các biện pháp hành chính như vậy – đa số vì tôi đã quen với hệ thống đảm bảo an toàn y tế rất tinh xảo và dù sao thì tôi cũng từng thảo luận với những đồng nghiệp thân cận nhất của mình và với bác sỹ tâm thần của tôi về những tình huống nguy cấp có thể xảy ra và cách xử lý tốt nhất trong những trường hợp đó. Tuy nhiên, tôi ngày càng lo ngại rằng công việc giảng dạy và phân tích của tôi có thể bị tổn hại. Ở UCLA, tôi đã giảng dạy và giám sát một số lượng lớn bác sỹ tâm thần và thực tập sinh bệnh thần kinh trong phòng khám tôi làm giám đốc. Ở Johns Hopkins, tôi cũng giảng dạy cho các bác sỹ và sinh viên y khoa ở khoa nội trú và ở phòng khám điều trị người bệnh ngoại trú bị rối loạn tâm thần. Tôi e rằng các bác sỹ và thực tập sinh này, do nhận thức khác nhau của họ về tôi, có thể sẽ không nói cho tôi biết họ đang thực sự nghĩ gì hoặc không hỏi tôi những thắc mắc mà lẽ ra họ có thể và cần hỏi.

Nhiều mối lo ngại này đã được tôi mang vào các công trình phân tích hay nội dung của tôi. Tôi đã viết rất nhiều về chứng hưng – trầm cảm trên các tạp chí y học và khoa học. Liệu các công trình của tôi có bị các bạn đồng nghiệp nhìn lệch lạc đi do bệnh tình của tôi hay không? Này là điều ám ảnh, cho dù trong khoa học, điều trọng yếu là công trình của một ai đó cuối cùng có được người ta nhắc tới hay không. Thành kiến cũng sẽ dịu đi theo thời gian. Tuy nhiên, tôi lo ngại phản ứng của các đồng nghiệp, một khi tôi công khai bệnh tình của mình: ví dụ khi tham gia một hội nghị khoa học và tôi đặt một thắc mắc hay tranh luận với một diễn giả nào đó, thì liệu thắc mắc của tôi có được người ta coi là của một người đã từng phân tích và điều trị bệnh rối loạn tâm thần trong nhiều năm, hay sẽ bị coi là ý kiến, chủ quan của một người muốn đạt được mục tiêu cá nhân nào đó. Điều tồi tệ ở đây là nó làm mất đi tính khách quan của học vấn. Tuy nhiên, công việc của tôi đã thăng hoa rất nhiều nhờ xúc cảm mạnh mẽ và những kinh nghiệm của chính bản thân mình tôi. Nó đã thúc đẩy rất lớn tới công tác giảng dạy, tư vấn, điều trị và các đề tài tôi chọn phân tích: bệnh hưng – trầm cảm nói chung, và các khía cạnh tự tử, rối loạn tâm thần và tâm lý rõ ràng của bệnh này, các biện pháp điều trị, hậu quả của việc không uống Lithi đúng hướng dẫn, những triệu chứng tích cực của bệnh điện và chứng tâm tính xoay chuyển và tầm trọng yếu của liệu pháp tâm lý.

Tuy nhiên, điều trọng yếu nhất là với tư cách một bác sỹ điều trị, tôi phải suy xét trước vấn đề mà Tim Chuột đã khéo léo mang ra trong cuộc trò chuyện của chúng tôi ở Malibu: Tôi có thực sự nghĩ rằng những người mắc bệnh tâm thần vẫn có thể được phép điều trị người bệnh hay không?

Khi rời Trường Đại học California mùa đông 1986 để trở lại Washington, tôi rất mong được tiếp tục dạy học và muốn được nhận một học vị nào đó tại một trường đại học y. Richard, người đã từng tới trường y của Đại học Johns Hopkins, nghĩ rằng tôi sẽ yêu thích một công việc ở đây. Theo gợi ý của anh, tôi làm đơn xin vào giảng dạy tại Khoa Tâm thần và tôi khởi đầu dạy học ở Hopkins chỉ vài tháng sau thời điểm trở lại miền Đông. Richard đã đúng, tôi yêu Hopkins ngay nhanh chóng. Và đúng như anh phán đoán, một trong nhiều điều thú vị khi làm giáo viên ở Hopkins là trách nhiệm giảng dạy ở đây rất cao. Sự chăm sóc y tế tuyệt vời ở đây cũng là một nhân tố nữa, vấn đề chỉ đang là thời gian để những đặc ân điều trị trong phòng khám phát huy tác dụng.

Với cảm nghĩ thường trực là phải xem xét kỹ các mẫu giấy thống kê chính thức của phòng khám, tôi khởi đầu soi xét đống giấy tờ trước mặt. Tôi ấn tượng với dòng chữ in BỆNH VIỆN JOHNS HOPKINS chạy suốt trên đầu tờ giấy. Nhìn xuống dưới, đúng như tôi phán đoán, là đơn xin đặc ân điều trị của phòng khám. Với tư tưởng kỳ vọng vào những điều tốt đẹp nhất, nhưng cũng sẵn sàng cho những điều tồi tệ nhất, tôi quyết định trả lời các thắc mắc “có hay không” trong bảng thống kê trước. Tôi nhanh chóng trả lời “không” cho một loạt thắc mắc về những sai sót nghề nghiệp, những bất minh trong bảo hiểm và bị kỷ luật về chuyên môn: Tôi có bị dính líu tới các vụ kiện tụng vì sai sót hoặc trách nhiệm pháp lý nghề nghiệp nào trước đó không? Tôi có bị hạn chế hay hạn chế nào về bảo hiểm sai sót nghề nghiệp không? Có khi nào giấy phép hành nghề của tôi bị hạn chế, đình chỉ, bị đặt điều kiện, bị treo, bị nhắc nhở chính thức hoặc không chính thức, không được gia hạn hay bị thu hồi hay không? Đã khi nào tôi bị một tổ chức y tế nào kỷ luật hay chưa? Tôi có đang bị một hình thức kỷ luật treo nào không?

Những thắc mắc này, ơn Chúa, thật dễ trả lời. Trong thời buổi hơi một tí là người ta lôi nhau ra toà này, thật may là cho tới lúc này, tôi đã nỗ lực để không bị kiện vì những sai sót của mình. Tuy nhiên, phần thống kê tiếp theo về “Thông tin cá nhân” đã làm cho tim tôi đập nhanh hơn. Và đúng như tôi phán đoán, ngay sau đó tôi bắt gặp những thắc mắc mà không thể chỉ trả lời đơn thuần bằng cách đánh dấu vào ô “có” hay “không”:

Hiện tại bạn có đang mắc hay đang được điều trị bất kì một chứng bệnh hay dị tật nào, kể cả nghiện ma tuý hay rượu, mà có thể tác động không tốt tới việc thực thi trách nhiệm và nghĩa vụ của các bạn ở phòng khám này không?

Những dòng phía dưới là lời cam kết chết người:

Tôi hiểu một cách đầy đủ rằng bất kì lời khai man hay bỏ sót nào trong bản thống kê này cũng có thể dẫn tới việc tôi bị từ chối tiếp nhận hoặc ngay nhanh chóng bị đuổi khỏi đội ngũ nhân viên phòng khám.

Tôi đọc đi đọc lại mãi thắc mắc “Hiện nay bạn có đang mắc…”, tư duy khá lâu và cuối cùng tôi quyết định viết ngay sau đó: “Căn cứ vào cuộc thảo luận với Chủ nhiệm Khoa Tâm thần…”. Viết đến đây tôi thấy nôn nao trong người, liền nhấc smartphone gọi cho chủ nhiệm khoa của tôi ở Hopkins và đề xuất ông sắp xếp đi ăn trưa cùng tôi.

Khoảng một tuần sau đó chúng tôi gặp nhau quán ăn của phòng khám. Ông là một người hay nói và vui vẻ. Chúng tôi dành mấy phút để trò chuyện vui vẻ với nhau về các hoạt động trong khoa, về công tác giảng dạy, các chương trình tài trợ phân tích và những thủ pháp điều trị tâm thần. Với đôi tay giữ chặt lấy đùi và cuống họng như tắc lại, tôi nói với ông về bản khai xin đặc ấn điều trị, về bệnh hưng – trầm cảm của tôi và những biện pháp điều trị mà tôi đang ứng dụng. Đồng nghiệp thân nhất của tôi ở Hopkins đã biết về bệnh tình của tôi. Lúc nào tôi cũng nói với các bác sỹ thân cận nhất về bệnh tình của mình. Ví dụ ở UCLA, tôi đã nói rất cụ thể về bệnh tình của mình với những bác sỹ đã cùng tôi thành lập Bệnh xá Rối loạn Xúc cảm UCLA và sau đó với viên bác sỹ, người đã làm bác sỹ trưởng trong gần suốt thời gian tôi làm giám đốc phòng khám này. Ông chủ tịch UCLA cũng biết tôi đang được điều trị bệnh hưng – trầm cảm. Khi đó cũng như hiện giờ, tôi cảm thấy mình phải có sự đảm bảo an toàn, để phòng khi tôi có thể mang ra những quyết định điều trị không thích hợp, do bị điên hay suy sụp nghiêm trọng. Nếu tôi không nói cho họ biết, không chỉ việc chăm sóc điều trị cho người bệnh có thể bị tổn hại, mà các đồng nghiệp của tôi còn tồn tại thể bị đẩy vào tình thế không thể bảo vệ được và có rủi ro phải ra toà nữa.

Tôi đã nói rõ với từng bác sỹ mà tôi làm việc cùng rằng tôi đang được một bác sỹ tâm thần tuyệt vời điều trị, tôi vẫn uống thuốc điều độ và không có bất kì vấn đề gì về ma tuý hay rượu. Tôi cũng nói với họ rằng họ được tự do hỏi bác sỹ tâm thần của tôi bất kì thắc mắc nào mà họ cảm thấy cần về bệnh tình và khả năng hành nghề của tôi (mặt khác tôi cũng đề xuất bác sỹ tâm thần thông tin cho tôi và cho tất cả những ai mà ông nghĩ là thiết yếu, nếu ông thấy đắn đo về các quyết định điều trị của tôi). Các đồng nghiệp của tôi tán thành rằng nếu họ có bất kì nghi ngờ gì về quyết định điều trị người bệnh của tôi họ sẽ nói thẳng với tôi, ngay nhanh chóng tách tôi khỏi trách nhiệm điều trị và nhắc nhở cho bác sỹ tâm thần của tôi biết. Tôi nghĩ toàn bộ họ đều đã gọi điện cho bác sỹ của tôi, vào lúc này hay lúc khác, để hỏi về bệnh tình và việc điều trị của tôi. Thật may là chưa có ai phải liên lạc với ông vì lo ngại tới khả năng hành nghề bác sỹ của tôi. Tôi cũng chưa khi nào phải từ bỏ đặc ân điều trị của mình, cho dù chính tôi đã từng phải hủy bỏ hoặc đổi lịch khám cho người bệnh, khi tôi cảm thấy rằng điều này là có lợi nhất cho họ.

Tôi vừa thận trọng, vừa may mắn. Bệnh tình của tôi hay của bất kì bác sỹ nào cũng luôn có rủi ro tác động tới các quyết định điều trị người bệnh. Những thắc mắc trong bảng thống kê xin đặc ân của phòng khám không khi nào là không công bình hay không thích hợp cả. Tôi không thích trả lời những thắc mắc đó, nhưng chúng hoàn toàn thích đáng. Những đặc ân điều trị đúng là đặc ân, chứ không phải quyền hành. Nguy hiểm thực tiễn chính là ở chỗ các bác sỹ điều trị (hay các nhà chính trị, phi công, doanh nghiệp, hay những người phải phụ trách về phúc lợi và cuộc sống của nhiều người khác) – chỉ vì sợ nhục nhã, sợ mất những đặc ân của mình, sợ bị đuổi khỏi trường y, các trường đại học hay nơi cư trú của mình – mà ngần ngại không tới bác sỹ tâm thần điều trị. Một khi không được chữa trị hay không được giám sát, nhiều người sẽ mắc bệnh trở nặng và vì vậy gây nguy hiểm không chỉ cho cuộc sống của chính họ, mà còn cho nhiều người khác nữa. Các bác sỹ tự điều trị tâm thần cho mình thường dẫn tới chỗ bị nghiện ma tuý hay nghiện rượu. Không ít trường hợp bác sỹ bị trầm cảm đã tự kê toa thuốc chống suy nhược cho mình và hậu quả là vô cùng tệ hại.

Các phòng khám và tổ chức chuyên nghề cần thừa nhận mức độ nguy hiểm mà các bác sỹ, y tá và nhà tâm lý không được điều trị có thể gây ra cho người bệnh. Tuy nhiên, các tổ chức này cũng nên khuyến khích các biện pháp điều trị hiệu quả và có tình, đồng thời hoạch định các cơ chế giám sát an toàn, thông minh và không gia trưởng. Rối loạn tâm thần, nếu không được điều trị, sẽ không chỉ gây nguy hiểm cho người bệnh, mà còn cho chính bác sỹ nữa. Hàng năm vẫn có rất nhiều bác sỹ – trong đó có nhiều bác sỹ giỏi – đã tự tử. Kết quả một cuộc điều tra gần đây cho thấy, số bác sỹ mà nước Mỹ bị mất chỉ riêng do tự tử mỗi năm, đã tương tự với số bác sỹ tốt nghiệp của một trường đại học y cỡ trung bình. Hầu như các bác sỹ tự tử là do trầm cảm hay hưng – trầm cảm, mà cả hai chứng bệnh này đều có thể chữa trị được. Điều xấu số là các bác sỹ không chỉ có tỷ lệ bị rối loạn tâm thần cao hơn dân số nói chung, mà còn được tiếp cận với nhiều biện pháp tự tử có hiệu quả hơn.

Các bác sỹ trước hết cần phải chữa lành bệnh cho chính mình, và họ cũng nên được tiếp cận các biện pháp điều trị tốt để chữa lành chứng bệnh của họ. Hệ thống hành chính và y tế cần khuyến khích các bác sỹ trị bệnh và mang ra các quy định giám sát hợp lý, đồng thời không dung túng cho những bác sỹ không điều trị chu đáo hoặc gây tổn hại tới việc chăm sóc người bệnh. Như ông chủ nhiệm khoa của tôi vẫn thích nói, các bác sỹ có trách nhiệm điều trị người bệnh và người bệnh không có nghĩa vụ phải trả giá – cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen – cho các vấn đề và bệnh tình của bác sỹ. Tôi hoàn toàn tán thành với ý kiến này của ông. Dù vậy, không phải là tôi không sợ hãi khi chờ đợi phản ứng của ông khi tôi nói với ông rằng tôi đang được điều trị bệnh hưng – trầm cảm và tôi cần phải thảo luận với ông về những đặc ân trong phòng khám của tôi. Tôi nhìn gương mặt ông để đoán xem ông đang nghĩ gì. Đột nhiên, ông vươn người qua bàn, đặt tay lên bàn tay tôi và mỉm cười: “Kay à, tôi biết là cô mắc chứng hưng – trầm cảm”. Ông ngừng một lát rồi cười: “Nếu chúng ta loại tất cả những người mắc chứng hưng – trầm cảm ra khỏi đội ngũ giáo viên của các trường y, thì không chỉ đội ngũ giáo viên bị giảm đi rất nhiều, mà nó còn buồn tẻ biết bao”.

Cuộc sống tâm hồn

Như Byron đã nói, toàn bộ tất cả chúng ta được tổ chức một cách khác nhau. Mỗi người tất cả chúng ta vận động trong khuôn khổ tâm trạng của mình và tất cả chúng ta cũng chỉ sử dụng hết một phần khả năng của nó mà thôi. Ba mươi năm sống cùng bệnh hưng – trầm cảm đã làm cho tôi ngày càng nhận rõ cả những hạn chế lẫn khả năng của nó. Điềm báo tối tăm và chết người mà tôi cảm thấy khi đang là đứa trẻ ngước nhìn lên khung trời trong xanh bạt ngàn, bị bao phủ bởi khói và lửa, vẫn luôn còn đó và thậm chí nó còn len lỏi vào những vẻ đẹp và sự sinh động của cuộc sống nữa. Tối tăm là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tôi. Tôi đơn giản nhớ lại những tháng ngày tàn nhẫn, tối tăm và kiệt quệ, cùng những nỗ lực đến ghê gớm để có thể giảng dạy, đọc, viết, khám cho người bệnh và duy trì các mối quan hệ. Nằm ở tầng sâu hơn, nhưng luôn sẵn sàng phối phù hợp với các dấu hiệu ban đầu của trầm cảm, là những hình ảnh bạo lực, điên khùng, cùng những hành vi đáng xấu hổ và man rợ tới mức không thể nào quên, và tệ hại hơn nữa là những thúc đẩy tàn nhẫn của chúng tới những nhân tố khác.

Tuy nhiên, cho dù tâm trạng và những ký ức này có kinh khủng tới mức nào, thì nó cũng luôn được bù đắp bằng sự hưng phấn và sinh khí của các nhân tố khác. Mỗi khi cơn hưng phấn điện nhẹ dịu dàng lan tỏa khắp người tôi, thì tâm trạng của tôi lại tràn ngập cảm nghĩ mạnh mẽ và nồng nàn – giống như con người ta cũng có thể bị chìm trong cảm nghĩ nhức nhối của toàn cầu ký ức vậy. Cảm nhận mạnh mẽ của trạng thái điên khi hòa lẫn với những trải nghiệm trong cuộc sống lại tạo ra mong ước được thấy lại những ký ức cũ. Cũng chính vì vậy mà tâm trạng của tôi ngày nay là một sự pha trộn vừa ngọt ngào, vừa cay đắng giữa sự tồn tại khá thoải mái và ổn định hiện tại với quá khứ phiền toái, nhưng mạnh mẽ.

Quá khứ thỉnh thoảng vẫn hiện về và sự cám dỗ muốn trở lại cảm nghĩ hưng phấn trước kia vẫn còn đó, cho dù tần suất đã giảm dần. Tôi ngoái nhìn lại phía sau và vẫn cảm thấy sự hiện diện của một cô gái trẻ, mạnh mẽ và tiếp sau này là một phụ nữ trẻ hung bạo, gây nhiều phiền toái, nhưng cả hai đều mang trong mình những giấc mơ cao đẹp, làm việc không mệt mỏi và chứa chan khát vọng lãng mạn. Làm sao người ta có thể nắm bắt lại cảm nghĩ mạnh mẽ hay tái hiện sự hưng phấn đến cao độ của bệnh điên, với những điệu nhảy suốt đêm cho tới tận sáng ngày tiếp theo, cất cánh vào khung trời đầy sao và nhảy múa xuôi theo vòng tròn đẹp đẽ của Sao Thổ? Làm sao người ta có thể kéo lại những ngày hè dài tràn ngập tình yêu thương, nhớ lại mùi tử đinh hương, cảm nghĩ đê mê và rượu gin đổ tràn lối đi trong vườn, cùng những trận cười vang không ngớt cho tới tận khi mặt trời lên, hay xe công an ập tới?

Sự pha trộn của những ước muốn trước đó luôn tồn tại trong tôi. Đây hình như là điều không thể tránh khỏi trong bất kì cuộc sống nào. Tuy nhiên, so với tôi đó đang là sự quyện xoắn của nỗi nhớ quá khứ đến nao lòng, do đã từng được trải qua cảm nghĩ vô cùng mạnh mẽ. Điều này làm cho việc từ bỏ quá khứ trở nên khó khăn hơn. Và đôi lúc, tôi vẫn tiếc nuối những cảm nghĩ đã mất. Tôi nhớ xúc cảm mãnh liệt đã qua và tự thấy mình thỉnh thoảng vẫn vô tình vươn tay ra như muốn níu kéo nó lại, giống như tôi vẫn thỉnh thoảng mang tay ra phía sau để đón mái tóc dài và dầy, nhưng đã mất từ lâu. Tuy nhiên, giống như vết tích của tâm trạng, cảm nghĩ ấy chỉ tồn tại như một bóng ma. Tôi không có nhu cầu bức bối phải tái hiện xúc cảm mạnh mẽ trước đó, mà hậu quả của nó là quá kinh khủng, quá nguy hiểm và quá tệ hại.

Dù vậy, sức cám dỗ của tâm trạng tự do và hưng phấn vẫn rất mạnh, và điều thú vị là trong cuộc tranh cãi từ ngàn xưa giữa lý lẽ và cảm nghĩ, phần thắng thường vẫn nghiêng về cảm nghĩ. Trạng thái điện nhẹ thường tạo ra nhiều kỳ vọng và – trong một khoảng thời gian rất ngắn nó giống như mang lại mùa xuân giữa những ngày đông, hay tạo ra sức sống cho một thời kỳ mới. Tuy nhiên, thực tiễn và sự tàn phá của việc bệnh tái phát vẫn tiêu diệt ý muốn níu kéo lại những ký ức, tiếc nuối và những giây phút tràn ngập cảm nghĩ mạnh mẽ và dịu dàng trước đó. Nếu muốn níu kéo lại những cảm nghĩ đó, tôi có thể đơn giản thực hiện được bằng cách thay đổi cơ chế uống thuốc, nhưng tôi đều nhanh chóng kiềm chế, vì tôi biết rõ sự thật lạnh lùng rằng cảm nghĩ mạnh mẽ và dịu dàng ấy sẽ nhanh chóng biến thành sự điên khùng và sau này là tình trạng điên loạn tới mức không thể kiểm tra nổi. Tôi rất sợ trở lại tình trạng trầm cảm một cách bệnh hoạn hay điên loạn một cách độc ác – mà cả hai đều có thể làm tan vỡ mọi khía cạnh của cuộc sống, mọi mối quan hệ và công việc vốn đang rất có ý nghĩa so với tôi. Cũng chính vì vậy mà tôi chưa khi nào nghiêm túc nghĩ tới việc thay đổi cơ chế uống thuốc của mình.

Mặc dù về cơ bản tôi vẫn lạc quan rằng tôi sẽ khoẻ mạnh, nhưng tôi cũng biết rằng tương lai chứng bệnh của mình là chưa có gì chắc rằng. Vì vậy, tôi luôn Note theo dõi những bài nói về phương pháp điều trị mới so với bệnh hưng – trầm cảm, nhiều hơn mức mà mối quan tâm nghề nghiệp của tôi đòi hỏi. Khi đi thăm một phòng khám nào đó, tôi thường tới thăm khoa tâm thần, thăm những phòng tách riêng người bệnh, phòng điều trị bằng liệu pháp sốc điện (ECT), đi lang thang trong sân phòng khám và đoán xem tôi sẽ ở đâu nếu phải nhập viện. Một phần tâm trí tôi vẫn nhắc nhở rằng tôi cần phải chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất và một phần khác của tâm trí lại tin rằng nếu chuẩn bị đầy đủ cho nó, điều tồi tệ nhất sẽ không xảy ra.

Nhiều năm chung sống với những chu kỳ cao trào của bệnh hưng – trầm cảm đã làm cho tôi thêm bình tĩnh, chuẩn bị tốt hơn và có khả năng xử lý tốt hơn những cơn thay đổi tâm trạng và sinh lực, do tôi chọn phương pháp uống Lithi liều thấp. Tôi hoàn toàn tán thành với niềm tin tôn giáo của Eliot rằng mọi chuyện đều có nguyên nhân của nó và thời gian giúp người ta xây dựng nên mọi vật, nhưng thời gian cũng giúp gió phá vỡ ô cửa sổ đã lung lay”. Vì vậy mà ngày nay, tôi đã có thể xử lý đơn giản hơn những dao động của sinh lực, ý tưởng và sự phấn khích, vốn vẫn xảy ra với tôi. Đầu óc tôi thỉnh thoảng vẫn tràn ngập ánh sáng, tiếng cười, tiếng động và triển vọng. Tiếng cười, sự hồ hởi và thanh thản vẫn dâng lên trong tôi, tràn ra ngoài và lan rộng. Những thời khắc huy hoàng và loé sáng này thường tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, để rồi cuộc sống lại tiếp tục đi lên. Tâm trạng hứng thú và tràn ngập kỳ vọng của tôi, giống như đang lướt trên nóc của vòng đu quay, luôn nhanh chóng rời trở lại trạng thái tối tăm và mệt mỏi. Thời gian sẽ trôi đi, tâm trạng này sẽ trôi qua và cuối cùng tôi lại là tôi. Nhưng vào một thời điểm nào đó trong tương lại, những khoảnh khắc phấn khởi lòng người này sẽ trở lại trong tâm hồn tôi.

Những khoảnh khắc duyên dáng và độc ác ấy cứ đến rồi lại đi. Chúng đã trở thành một phần máu thịt của cuộc sống tôi, tới mức mà những sắc màu và tiếng động hoang dại của nó nay đã ít lạ lẫm hơn và cũng không nhiều mạnh mẽ hơn.

Tương tự như vậy, sự u tối và tồi tệ, mà chắc rằng sẽ xảy ra sau đó, cũng không nhiều tối tăm và ít đáng sợ hơn. Melville đã từng nói: “Dưới những ngôi sao ấy là thế giới của ác quỷ đang bay lượn”. Tuy nhiên, cùng với thời gian, khi đã gặp nhiều ma quỷ, người ta sẽ ít sợ những con quỷ có thể gặp trong tương lai hơn. Mặc dù những cơn điên vào mùa hè thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong tôi, nhưng những điều tệ hại nhất của nó đã không còn tiếp, và hầu như vẻ đẹp và hào quang trước đó cũng nhanh chóng trôi qua. Do sự rút gọn của thời gian, do sự từng trải của kinh nghiệm và do tác dụng của thuốc, nay chúng chỉ đang là những cơn điên ngắn vào mỗi tháng bảy, cho dù thỉnh thoảng chúng vẫn tạo ra tâm trạng đen tối và sự thích thú nồng nàn. Nhưng rồi chúng cũng qua đi. Những người đã trải qua cảm nghĩ đó sẽ nhạy cảm hơn về chết chóc và cuộc sống. Giống như sau thời điểm nghe quá quen tai và quá tin vào tiếng chuông báo tử của John Donne, “những người phải chết” sẽ hướng mạnh hơn tới cuộc sống, mà nếu bình thường sẽ không có được.

Toàn bộ tất cả chúng ta đều xây dựng những con đê biển ở trong lòng để ngăn những điều phiền toái của cuộc sống và ngăn cả những sức mạnh ghê gớm trong chính tâm hồn mình. Cho dù bằng cách nào – tình yêu, công việc, gia đình, đức tin, đồng bọn, sự khước từ, rượu, ma tuý hay bằng thuốc – tất cả chúng ta vẫn phải xây dựng con để ấy từ từ, từng hòn đá một, trong suốt cuộc sống mình. Một trong những khó khăn lớn nhất là làm thế nào để xây dựng một con để đủ cao và mạnh để tạo ra một bến đỗ thực sự và một thánh địa an toàn tránh mọi điều phiền toái và đớn đau, nhưng nó cũng phải đủ thấp và có thể thấm được để dòng nước tươi mát có thể đẩy lui dòng nước lợ. So với những ai có tính khí và tâm trạng giống như tôi, thuốc là thành phần không thể thiếu trong hàng rào thành này. Nếu không có thuốc, chắc là tôi sẽ thường xuyên bị những con sóng trí não xô đẩy và có thể tôi đã bị chết hoặc điện nặng.

Tuy nhiên so với tôi, tình yêu cũng là một | thành phần tuyệt vời trong hàng rào thành ấy. Tình yêu giúp tôi ngăn chặn những điều kinh khủng và tệ hại, nhưng cũng đồng thời cho phép cuộc sống, nét đẹp và sinh khí thấm vào trong tôi. Khi lần trước nhất nghĩ tới việc viết cuốn sách này, tôi đã hiểu rằng đó phải là cuốn sách viết về tâm hồn và bệnh tâm thần trong cuộc sống Tuy nhiên, khi bắt tay vào viết, thì nó lại là cuốn sách viết cả về tình yêu. Tình yêu duy trì, tái tạo và bảo vệ cuộc sống. Mỗi khi tâm hồn và trái tim tôi hình như đã chết, thì tình yêu trở lại để tái tạo kỳ vọng và phục hồi cuộc sống của tôi. Tình yêu đã làm cho nỗi buồn trong tâm hồn nhẹ bớt và vẻ đẹp trong tâm hồn hiển hiện. Tình yêu không chỉ là tấm áo choàng, mà đang là ngọn đèn, soi rọi cho những ngày ẩm thấp và tối tăm.

Từ lâu tôi đã từ bỏ tư tưởng cho rằng cuộc sống không có sóng gió, hay toàn cầu không có những mùa khô giết chết mọi vật. Cuộc sống quá phức tạp và thường xuyên thay đổi tới mức nó không thể là bất kì thứ gì, trừ chính nó. Về bản chất, tôi là một người quá dễ thay đổi. Tuy nhiên, tôi cũng rất sợ sự can thiệp quá mạnh và không tự nhiên, nhằm kiểm tra quá nhiều những sức mạnh mà về bản chất là không thể kiểm tra nổi. Lúc nào cũng có những nhân tố xúc tiến, quấy rối và chúng sẽ còn đó cho tới khi, như cách nói của Lowell, đồng hồ được tháo ra khỏi cổ tay. Và cuối cùng, chính những giây phút riêng tư, hồi hộp, trống trải, tràn ngập niềm tin hay hăng say đến điên khùng ấy lại tạo ra cuộc sống, làm thay đổi bản chất và hướng đi của cuộc sống sự nghiệp và tạo ra ý nghĩa và sắc màu cho tình yêu và tình bạn của mỗi con người.

LỜI KẾT

Tôi vẫn thường tự hỏi mình, nếu được chọn lựa, tôi có chọn bệnh hưng trầm cảm hay không. Nếu Lithi không có sẵn hay không có tác dụng so với tôi, thì câu trả lời đơn giản là “không” và đó cũng là câu trả lời pha lẫn sự hoảng sợ. Tuy nhiên, Lithi đã có tác dụng so với tôi và vì vậy tôi nghĩ rằng mình có đủ khả năng đương đầu với thắc mắc này. Điều kỳ lạ là tôi nghĩ tôi có thể sẽ chọn bệnh này. Đây là vấn đề rất phức tạp. Tình trạng trầm cảm là vô cùng tệ hại, mà không một lời nào, một tiếng động nào hay một hình ảnh nào có thể mô tả được. Tôi cũng không nói nhiều về tình trạng này nữa. Nó làm mất đi các mối quan hệ, do nghi ngờ, do không tin tưởng và thiếu tự trọng. Nó làm mất khả năng thưởng thức cuộc sống. Nó làm cho người ta không thể đi lại, nói năng và tư duy một cách bình thường. Nó mang tới sự kiệt quệ, những đêm dài kinh khủng và những ngày dài hoảng sợ. Chẳng có gì tốt đẹp để nói về nó cả, ngoại trừ nó giúp bạn hiểu thế nào là già, thế nào là ốm yếu, thế nào là chết, thế nào là chậm hiểu, thế nào là vô duyên, mất lịch sự và thiếu hợp tác, thế nào là xấu xa, mất niềm tin vào cuộc sống, mất hứng thú trong quan hệ tình dục, không hiểu được những nét tinh tế của âm nhạc và mất khả năng làm cho chính bạn và những người khác có thể cười.

Một số người nói rằng họ biết thế nào là trầm cảm, bởi vì họ đã từng trải qua cuộc sống li hôn, mất việc hoặc mất quan hệ với một ai đó. Tuy nhiên, trải nghiệm này mang theo nó cảm nghĩ thực. Còn trầm cảm thì vô vị, trống rỗng và không thể chịu đựng được. Nó làm cho người ta mệt mỏi. Khi bị trầm cảm, bạn không thể chịu đựng được sự có mặt của những người xung quanh. Họ có thể nghĩ rằng họ nên và thậm chí nỗ lực ở lại bên bạn. Tuy nhiên, bạn biết và họ cũng biết rằng bạn là người tẻ ngắt tới mức không thể chịu đựng được. Bạn gắt gỏng và hoang tưởng, không còn một tí khôi hài nào và mất hết sinh khí, bạn chỉ trích hết thảy và đòi hỏi quá nhiều và không một lời an ủi nào có thể làm cho bạn ưng ý. Bạn hoảng sợ và ngày càng hoảng sợ. Bạn “chẳng phải là bạn một chút nào, nhưng sẽ sớm trở lại là bạn”. Tuy nhiên, bạn biết rằng bạn sẽ không thể.

Thế thì vì sao tôi lại muốn chứng bệnh này?

Bởi vì, tôi thực sự tin rằng nhờ có nó mà tôi biết nhiều điều hơn và sâu sắc hơn; tôi có nhiều kinh nghiệm hơn và có cảm nghĩ mạnh mẽ hơn; yêu nhiều hơn và cũng được yêu nhiều hơn; cười nhiều hơn vì đã từng phải khóc nhiều hơn; hiểu rõ hơn giá trị của mùa xuân vì đã từng trải qua những mùa đông; thấy chết chóc đến sát bên mình và vì vậy hiểu rõ hơn giá trị của chết chóc – và cuộc sống, nhìn thấy những điều tốt đẹp nhất, cũng như những gì tệ hại nhất ở con người và dần dần nhận rõ giá trị của sự chăm sóc, lòng trung thành và sự trợ giúp. Tôi thấy được bề rộng, chiều sâu, sự phóng khoáng của tâm hồn và trái tim tôi, thấy được sự mong manh của chúng và cũng thấy được nguyên nhân vì sao chúng không thể hiểu nổi. Khi trầm cảm, tôi đã từng phải bò qua phòng và đã từng phải bò như vậy hết tháng này qua tháng khác. Tuy nhiên, khi bình thường hay khi bị điên, tôi lại chạy nhanh hơn, tư duy nhanh hơn và yêu nhanh hơn hầu như những người mà tôi biết. Tôi nghĩ rằng hầu như những chuyện này là có liên quan tới chứng bệnh của tôi – này là sức sống mạnh mẽ truyền vào mọi việc và tầm nhìn rộng mà nó tạo ra trong tôi. Tôi nghĩ rằng chứng bệnh đã hỗ trợ tôi kiểm nghiệm hạn chế của tâm hồn mình (một việc dù muốn cũng khó thực hiện được) và kiểm nghiệm hạn chế của sự dạy dỗ, của gia đình, của nền giáo dục và của bè bạn.

Vô vàn lần hưng cảm nhẹ và chính bệnh điện đã tạo ra trong tôi khả năng nhạy cảm, hiểu biết và tư duy khác. Ngay cả khi bị tâm thần nặng rơi vào ảo giác, u mê hay điên loạn – tôi vẫn phát xuất hiện những góc mới trong tâm hồn và trái tim mình. Một vài góc rất lạ thường và đẹp đẽ, tới mức nó làm cho tôi phải nghẹt thở và tôi có cảm nghĩ rằng tôi có thể chết ngay lúc bấy giờ để giữ mãi những hình ảnh ấy. Có một vài góc rất kỳ cục và tệ hại, tới mức tôi không khi nào muốn biết rằng chúng đang tồn tại ở đó hay muốn thấy lại chúng. Tuy nhiên, khi nào cũng có những góc mới . và khi tư duy trở lại bình thường, nhà thuốc và tình yêu – tôi không thể hình dung được vì sao cuộc sống lại buồn tẻ đến thế, bởi vì tôi biết những góc này là vô hạn và tầm nhìn của nó cũng là vô hạn.

 

HẾT