Lê Thị Lựu, ấn tượng hoàng hôn

 

 

Viết được trung thực về một người không quen biết đã khó, nhưng
viết về một họa sĩ thân thương thân thuộc trên 25 năm trời, hẳn là khó hơn: Bao
năm thân thiện họa sĩ Lê Thị Lựu, nhưng ước chừng so với bà, việc cầm bút là lẽ tự
nhiên, như ta cần ăn, cần thở, bà không khi nào giảng cho tôi nghe những lý thuyết
hay qui luật hội họa. Bức nào vẽ gần xong, vừa ý hay chưa, bà chỉ vắn tắt: “”. Hình như: ánh sáng
ấy thì phải đi với màu sắc này. Lẽ tự nhiên là thế, như không có định luật: họa
sĩ đạt được thành công trong niềm giao cảm giữa nhãn quan và văn nghệ.

Họa sĩ Lê Thị Lựu với tôi ngoài liên hệ gia đình,
đang là một trong hai người đàn bà hiếm hoi ở Pháp mà tôi được gần cận và quý
mến: Người thứ nhất là bà Nguyễn Hiến Lê, một người đã hy sinh hạnh phúc cá nhân
cho sự nghiệp văn học của chồng và người thứ nhì, Lê Thị Lựu, người đàn bà với toàn bộ ý nghĩa đúng đắn và trung thực.

Tôi gặp bà lần đầu khi được giới thiệu với gia đình chồng, năm
1964, và như một số phận, tôi đã có mặt bên cạnh bà những ngày cuối. được tôi ghi lại trong một nội dung về một người bạn, năm 2000:   

 

Ngày 30/5/1988, chúng tôi đến thăm ông bà ở villa An Trang,
chụp với bà tấm hình kỷ niệm -không ngờ là tấm hình cuối của bà- ngày tiếp theo bà vào
cơ sở y tế để thăm dò tim mạch. Ngày 4/6/1988, chúng tôi lại cơ sở y tế Antibes
thăm và chào bà để về Paris. Bà vui lắm, kể hết chuyện này đến chuyện khác, kết
quả giảo nghiệm rất tốt, ngày mai bà được ra viện. Không ngờ tối hôm đó bà xuất
huyết não, hôn mê và ngày 6/6/1988, tử vong. Hay tin, tôi lái xe xuống Côte ngay,
hai ông cháu thay quần áo cho bà, vì ông không muốn người ngoài làm việc ấy. Bà
lạnh giá, không biết gì nữa. Khi bà còn sống, hai bà cháu thường bàn với nhau về
tử vong: sau khoảng thời gian chết chẳng biết mình đi đâu, có trở lại được không? Tôi dặn:

gật: . Nhưng từ hồi ấy không thấy bà về lần nào. Chắc
không có cách nào cả.

 

*

 

Lê Thị Lựu nổi trội tài năng từ khi còn học trong trường. Ngày
15/11/1929, khai mạc cuộc triển lãm trước hết do giáo sư Tardieu tổ chức để học
trò bán tranh lấy tiền chi cho việc học, nhà bỉnh bút văn nghệ, Yvonne Schultz,
sau khoảng thời gian lướt qua tác phẩm của các bậc đàn anh khoá I, khoá II, dừng lại ở Lê Thị
Lựu:

Những nhận xét của Yvonne Schultz về hai tác phẩm triển lãm đầu
tiên của Lê Thị Lựu, thật chuẩn xác, bà đã lột tả được hai nét chính trong tranh
của người nghệ sĩ này: và .

Trả lời phỏng vấn của Mộng Trung, Lê Thị Lựu kể lại hoàn cảnh vẽ
bức tranh : Ngày tựu trường học trò phải nộp những tác phẩm vẽ
trong dịp hè để sửa soạn cho cuộc triển lãm cuối năm, mà lúc đó, chỉ có một bức,
phải vẽ gấp bức thứ nhì.

 

Thập niên 1930, các báo trong nước đều nhắc tới người nữ họa sĩ
trước hết của Việt Nam, tốt nghiệp thủ khoa khoá III, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông
Dương năm 1932. Ra trường nổi tiếng ngay khắp ba kỳ. Đặc biệt báo Phong Hoá,
cũng ra đời năm 1932, số 18, nhận định về trường Mỹ Thuật Đông Dương bằng những
hàng:

Nội dung không ký tên nhưng ta có thể đoán là của Thạch Lam, bởi
Thạch Lam là người phụ trách thường xuyên mục phê bình mỹ thuật trên Phong Hoá
và Ngày Nay và cũng là nhà văn theo sát sinh hoạt của người nữ họa sĩ trước hết
của Việt Nam lúc bấy giờ. Thạch Lam đã đặt Lê Thị Lựu cùng hàng với hai họa sĩ đàn
anh là Lê Phổ và Mai Trung Thứ (tức Mai Thứ), tốt nghiệp khoá I, năm 1930.

Trong cuộc triển lãm năm 1935, Lê Thị Lựu lúc đó đã lấy chồng và
đang sửa soạn vào Nam, phải tạm nghỉ vẽ một thời gian, Thạch Lam dưới bút hiệu
Việt Sinh, trên Ngày Nay số 3 ra ngày 20/2/1935, sau khoảng thời gian điểm hết tranh của các
họa sĩ khác, không quên nhắc:
RồiNgày Nay số 4, ra ngày 1/3/1935 in hìnhdo
Lanvin chụp Lê Thị Lựu cùng hai người bạn. Đến năm 1936Lê Thị Lựu đã
vào Nam dạy vẽ rồi, Thạch Lam còn viết bài ,
bênh vực họa sĩ, khi cô Lựu bị một học trò vô lễ.

Những sự kiện này mang đến thắc mắc: nhà văn trẻ Thạch Lam đã bị
văn nghệ hay sắc đẹp của họa sĩ Lê Thị Lựu chinh phục? Chắc cú cả hai. Mà
không chỉ có Thạch Lam, trong tám năm sống trên quốc gia, sau khoảng thời gian tốt nghiệp, Lê
Thị Lựu đã làm giáo sư dạy vẽ ở các trường Nam Bắc: trường Bưởi, Hàng Bài, Áo
Tím… Trong đám học trò, rất nhiều văn nhân thi sĩ; khi bà rời Hà Nội, vào Nam
đáp tầu đi Pháp đầu năm 1940, Hoài Điệp (Đinh Hùng) và Huyền Kiêu có bài thơ
tiễn:

 

Kính tặng chị Lựu

 

(Tây Hồ, ngày 8/3/1940)

 

Sống tại Pháp từ năm 1940 nên ít người biết
đến bà. Trong hơn ba mươi năm sáng tác liên tục, Lê Thị Lựu vẽ không nhiều,
tranh bà đã tản mát, lưu lạc, nếu muốn ước lượng, con số hai, ba trăm xem chừng
thân thiện nhất. Phần lớn là tranh lụa, một số rất ít sơn dầu. Đề tài nằm trong chữ
thiếu: …

 

Đến Pháp gặp đúng lúc chiến tranh toàn cầu
nở rộ, bà cùng chồng phải đi lánh nạn, tìm cách sinh sống, nuôi con, nhiều năm
xa hội họa. Mặc dầu khi ra đi, chỉ định ở lại Pháp sáu tháng hay một năm, nhưng
bị chiến tranh giữ lại, đường về nước bị tắc nghẽn. Phải sau mười lăm năm lưu
lạc như thân phận Kiều, Lê Thị Lựu mới tái hợp được với văn nghệ, và bà đã
chọn tranh lụa là nền chính cho hội họa của mình, như Nguyễn Gia Trí đã chọn sơn
mài làm gốc.

Sự lựa chọn này như một tiền định gắn bó với
bản chất của người nghệ sĩ: Lê Thị Lựu, tự thân, đã có gì mong manh như ,
sáng như , mỏng như , tế nhị như , và chải chuốt
như , từ nét vẽ, cách pha màu, đến sắc đẹp bản thân. Cũng chính vì vậy, Lê
Thị Lựu đã thành công trong tranh lụa, bà tạo được chỗ đứng tách biệt của mình
như một , không giống bất kể tranh lụa nào của
những người đi trước cũng như đi sau.

 

Thời ấy, có ba người đỗ vào trường Mỹ Thuật
Đông Dương năm 1927, khoá III, là Lê Thị Lựu, Trần Quang Trân (cả hai tốt nghiệp
theo thứ tự nhất, nhì) và Nguyễn Gia Trí.
Nhưng Nguyễn Gia Trí học đến năm thứ ba (1929) thì bỏ, sau ông xem sơn mài của
Trần Quang Trân trưng bày tại hội chợ thấy thích, mới vào trường học tiếp
và ông ra trường khoảng 1936, sau Lê Thị Lựu và Trần Quang Trân vài năm.

Rất lạ là sau này cả Nguyễn Gia Trí và Lê Thị
Lựu đều lập đoạn đường riêng, mới lạ của mình: Nguyễn Gia Trí trở thành người
thầy của sơn mài và Lê Thị Lựu đứng hàng đầu trong văn nghệ tranh lụa cùng Mai
Thứ.

Trần Quang Trân là người khai sáng đoạn đường
vẽ sơn ta lối mới, từ năm 1932, sau gọi là sơn mài. Trên báo Ngày Nay số 11, ra
năm 1935, có nội dung tựa đề như sau:

Nội dung này không ký tên
xác nhận Trần Quang Trân là người tìm hiểu ra sơn mài mới, nhưng Nguyễn Gia Trí
mới là người kiến tạo sơn mài thành một văn nghệ mới lạ và trở thành người
thầy của sơn mài.

Nhưng Lê Phổ, ở Pháp lại có một lối tiếp cận
sơn mài khác. Trong bài chúng tôi phỏng vấn họa sĩ Lê Phổ, thực hiện tháng
3/1993, có một đoạn nói về việc ông học làm tranh sơn mài tại Pháp với cụ Hợp,
cụ Mạc, như sau: 

[Lê Phổ]

Lê Thị Lựu, không thể vẽ sơn mài, vì bà dị ứng
với sơn ta. Thời gian ở trong nước bà vẽ tranh sơn dầu.

 

 

Tình hình tranh lụa ở Việt Nam năm 1936

 

Báo Ngày Nay số 38, ra ngày 13/12/1936, trong
nội dung tựa đề , tiểu đoạn
,
Thạch Lam nhận xét về tình hình tranh lụa lúc đó như sau:

Như vậy, theo Thạch Lam, hai khuôn mặt nổi
trội về tranh lụa ở trong nước năm 1936, là Nguyễn Tường Lân và Nguyễn Gia Trí.

 

Sự tìm kiếm một kỹ thuật mới cho tranh lụa
của các họa sĩ ở Pháp

Khi sang Pháp, cũng vào khoảng năm 1936, các
họa sĩ Việt Nam đã tìm phương pháp vẽ tranh lụa khác với kỹ thuật Trung quốc. Theo ông
Ngô Thế Tân, hoạ sĩ Vũ Cao Đàm là người trước hết tìm cách biến hoá tranh lụa,
chính họ Vũ đã tìm thấy kỹ thuật bồi lụa
làm cho tranh lụa thoát khỏi kỹ thuật cổ kính.

Nhưng phải gần hai mươi năm sau, 1954, Lê Thị
Lựu mới tìm thấy cách giao hoà văn nghệ vẽ lụa với kỹ thuật ấn tượng để tạo
thành phong thái tranh lụa Lê Thị Lựu. Nói khác đi, Lê Thị Lựu không vẽ tranh
lụa giống Nguyễn Phan Chánh, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Mai Thứ, mà bà đã tìm tòi và
thiết lập một phương pháp vẽ tranh lụa của riêng mình, về kỹ thuật cũng như văn nghệ.

Vũ Cao Đàm bồi lụa lên giấy trước, sau đó mới
vẽ. Lụa có giấy làm nền, sẽ cứng cỏi hơn và họa sĩ có thể tự do đắp các gam mầu
khác nhau và thay đổi độ dày mỏng theo ý muốn. Vẽ tranh lụa không thể dùng sơn
dầu mà phải dùng sơn nước, do đó Lê Thị Lựu chỉ để lại một bức vẽ lụa bằng sơn
dầu, là bức (Sưu tập Ngô Thế Tân tặng Viện Bảo Tàng Mỹ
Thuật TP HCM).

 

Thiếu nữ áo trắng

 

Sau thế chiến, các họa sĩ Vũ Cao Đàm và Lê Phổ đều bỏ dần tranh
lụa, vì thấy tranh lụa ràng buộc quá, tranh sơn dầu tự do hơn.
Rút cục chỉ còn Mai Thứ và Lê Thị Lựu tiếp tục vẽ tranh lụa, nhưng hai người đi
hai đoạn đường hoàn toàn khác nhau.

 

Tranh lụa của Mai Thứ tập hợp nhiều phong thái: ông giữ lại kỹ
thuật họa hình và phân bố mầu sắc theo đường viền dessin lối Tầu, nhưng tranh có
chiều sâu, sáng tối, nhiều mầu. Mai Thứ vẽ dessin theo kiểu trường phái Hồn
nhiên, Ngây ngô (Naïf) của Pháp. Ông sáng tạo những đứa trẻ Việt mặt tròn như
trăng rầm. Sự mong manh tế nhị trên nét vẽ và lối gieo mầu tác động văn nghệ
hội họa cổ Iran . So với người Pháp, Mai Thứ đã tạo được
một họa phái mới lạ, mà họ thấy có họ trong đó, nên ông rất thành công ở Pháp.

Tranh lụa của Lê Phổ vẽ theo truyền thống Trung quốc, hoàn toàn
hai chiều, không có độ sâu, có đường viền dessin. Đặc biệt nét vẽ của ông tinh
vi như những bức tranh cổ Âu châu thời Phục Hưng, nhưng ông mang vào tranh không
khí Đông phương đài các. Lê Phổ ngừng vẽ tranh lụa khoảng sau thế chiến và
chuyển hẳn sang tranh sơn dầu. Tranh sơn dầu Lê Phổ có tính cách trang trí,
quang độ chan hòa, sắc độ rực rỡ.

Tranh lụa của Vũ Cao Đàm sắc sảo tinh xảo hơn hết: ông giao hoà
văn nghệ tranh cổ đời Tống và văn nghệ tranh cổ Phục Hưng: tranh ông có
chiều sâu, có những nét trắc họa, đường vờn cong, tròn, đặc biệt Vũ Cao Đàm, ở đây,
cực kỳ cao diệu. Bức chân dung (sưu tập Thụy Khuê – Lê
Tất Luyện)là một kiệt tác trong thể loại tranh lụa mà có vẻ chưa nghệ sĩ
Việt Nam nào đạt được, có thể coi như La Joconde Việt Nam. Tranh sơn dầu Vũ Cao
Đàm vẫn những nét vờn cong, những đường vòng, có độ tung hoành vô cùng quyến rũ,
ngoạn mục, mang mầu biếc Địa Trung Hải, nơi ông sống suốt đời. Đề tài thường rút
trong Kiều, sắc độ chuyển biến trong màu xanh: khung trời Địa Trung Hải và màu lam
bình cổ đời Minh. Vì mầu xanh biếc, khiến ta tưởng Vũ Cao Đàm tác động Chagall,
nhưng thực ra, có lúc hai người sống cùng một nơi
cùng chung mầu sắc, khí hậu và phong cảnh. Chagall nổi tiếng lừng lẫy nên người
ta chỉ biết có Chagall, còn Vũ Cao Đàm là họa sĩ xuất thân từ một nước nhược
tiểu và ông không vẽ nhiều, nên không mấy ai biết tới ông.

Lê Thị Lựu, khi ở trường, được học vẽ tranh lụa theo phong thái
gia truyền Trung Quốc, tức là căng lụa và vẽ thẳng trên lụa; vẽ xong mới bồi
tranh lên giấy và đóng khung. Vẽ dessin trước, rồi dàn màu đều lên từng mảng
theo đường viền của dessin. Nhược điểm của lối này là tranh bị hạn chế trong sự
đơn sắc, vì lụa rất mỏng, sự phân bố mầu sắc khó khăn, do đó tranh Tầu hay
tranh Nguyễn Phan Chánh thường từng mảng đồng mầu (aplat) hoặc vài mảng màu tô
đậm nhạt khác nhau (camaieu). Nguyễn Phan Chánh giữ lối vẽ này, từ đầu đến cuối,
khiến Thạch Lam, ngay từ năm 1936, đã phê bình Nguyễn Phan Chánh không hề thay đổi
.

Lê Thị Lựu, từ 1954, sẽ bỏ hẳn lối vẽ như vậy.

 

 

Đoạn đường hội họa của Lê Thị Lựu

Người con gái ngày xưa tự học vẽ bằng cách “.
Anh người nhà ấy tên Pheo, đã được Lê Thị Lựu ghi vào thơ như những phần tử thân
yêu nhất của đời mình: cha, mẹ, các em, cầu Trầm và Pheo:

Tuy vậy, khi sang Pháp, Lê Thị Lựu đã phải ngừng vẽ 15 năm, bỏ
văn nghệ để làm nghề khác. Phải đến khi người chồng về nước làm việc, lúc đó
Lê Thị Lựu mới có đủ tự do để tìm lại đoạn đường hội họa của riêng mình.

Tranh Lê Thị Lựu êm dịu ánh sáng, nhẹ nhõm màu sắc, mềm mại nét
bút, đề tài chuyên biệt: và Bà chuyển toàn bộ
thần thái, tâm sự nhớ nhà, sự thân mật, dịu dàng và tế nhị vào nét bút như một căn
cước, một bản sắc. Trổ tài phái tính chăng? Chưa hẳn thế, vì trong các ký họa
hay sơn dầu bà có những nét gân guốc như nam phái, đặc biệt tranh sơn dầu vẽ
phong cảnh, có chút tác động Cézanne, nhưng bà đem vào tranh những nét mềm mại,
mộng mơ của thi ca Việt. Lê Thị Lựu khởi đầu sự nghiệp bằng tranh sơn dầu, nhưng
những bức tranh vẽ trước năm 1940, khó tìm lại được dấu vết, trừ bức là bài tập ở trường, giáo sư Tardieu ra cho học trò vẽ, vào khoảng
năm 1926.
Bức tranh này được ông giám đốc hãng dệt thảm Hàng Kênh ở Hải Phòng mua, và tình
cờ đúng ngày bà mất, ông đã smartphone trả lại
chủ,
và bức con gái ông
Nguyễn Văn Vĩnh, vẽ năm 1933 bằng phấn màu (pastel), chỉ còn hình chụp.

 

 Tranh
Thiếu nữ Bắc kỳ, Bài tập, sơn dầu khoảng 1927

 

Tranh sơn dầu

Tại Pháp, Lê Thị Lựu vẽ sơn dầu trong hai trường hợp: phong cảnh
và chân dung. Tranh phong cảnh bà thường vẽ khi đi nghỉ hè. Bức bàdùng khối, tụ chồng lên nhau, dấu hiệu những immeuble nhiều tầng
xam xám, san sát bên bờ; dưới nước, những chiếc thuyền nhỏ nghèo nàn bỏ neo, tạo
cảnh một bến cảng sau chiến tranh, thơ mộng và lầm than của nước Pháp hoà bình
nhưng chưa kỹ nghệ hoá. Gam mầu xám nhạt êm dịu và buồn buồn bao trùm lên những
căn hộ nghèo nàn rồi tràn sang những cột buồm lan dần xuống nước, khiến biển
cũng tôi tối, toàn bộ hòa đồng trong sắc độ xám tro, tịnh, thanh và buồn bã.

 

Bến Honfleur

 

Bức vẽ cảnh quê non nước miền Auvergne, Pháp, nhưng
lại có những ô vuông như những thửa ruộng quê ta, với những dòng nước chảy quanh,
gợi cảnh trung du đất Bắc. Miền Auvergne nằm trong lòng Quần Sơn Trung Nguyên
(Massif Central) mùa hè thường xanh mướt, bởi khí hậu mát và có nhiều ánh sáng,
nhưng Lê Thị Lựu ghi lại đây một cảnh mầu tro, như thể miền quê này đã thấm nỗi
buồn của bà, đã nhuốm tâm sự của bà, nó đã được Việt hoá trong lòng tác phẩm.

 

 

Sơn Thủy

 

Bức(sưu tập Vũ Đình Thịnh): Vẽ rừng cuối thu,
cây hầu hết trơ lá, giữa cảnh một
phụ nữ và một bé gái bận rộn trong rừng, chắc là hai mẹ con: người mẹ chừng đang
kiếm củi, đứa bé sà xuống góp nhặt những đoá hoa cỏ cuối cùng còn sót lại bên lạch
nước. Một cảnh thu muộn trên đất Pháp lồng vào những nhân vật Việt, bởi họa sĩ
không thể tách rời thực tại với quá khứ, ngoại cảnh với nội tâm của mình.

 

Rừng thu

 

Chân dung

Vẫn trong tranh sơn dầu, Lê Thị Lựu vẽ nhiều chân dung mới lạ,
mỗi bức một phong thái, một cá tính riêng. Có thể kể:

Hai bức:và Lê Thị Lựu
đã lột được những nét đặc trưng của hai người dân quê miền trung nam nước Pháp: Bà
cụ mặc áo đen, tóc bạc trắng, hai mắt xanh đậm chiếu vào người đứng đối diện như xác
định uy quyền người phụ nữ gốc Ý miền Địa Trung Hải, lưu lạc lên vùng đồi núi
Auvergne, cả đời cầm cân nảy mực, tần tảo nuôi gia đình. Hàng rào đá sau lưng
bà cụ phản ảnh lối xây cất vững chắc của miền trung nam nước Pháp ngày xưa: ăn
chắc mặc bền, cũng là đặc tính mộc mạc, thô lậu, can trường của người miền
Auvergne. Hội họa dấu hiệu (expressionnisme), phong thái Lê Thị Lựu, thực sự
tạo dựng qua bức tranh này: cương nhu hài hoà và đối lập qua nét bút. Gam màu
gieo tương phản giữa chiếc áo cánh đen của bà cụ và mầu sáng hồng xanh trên nét
mặt và nền tranh. Hai thái cực giao thoa, nẩy ra bản lĩnh của người phụ nữ miền
Auvergne, đượm cả bản lĩnh Lê Thị Lựu.

 

 

Bà Cụ vùng Auvergne

 

 

Ôngcụ hai tay tỳ trên chiếc gậy, toát ra vẻ lưỡng lự, lấn
cấn, buồn bã, của một người đàn ông sống nương tựa vợ, yên phận thủ thường: Mầu
hồng nâu ngự trị trên bức chân dung toả nắng ấm; ông cụ tựa lưng vào căn nhà có
cửa sổ đã nhăn nheo. Theo Freud, căn nhà khi nào cũng biểu hiệu cho người phụ nữ,
trong mơ hay trong đời. Tranh cho ta cái cảm tưởng ông cụ này cả đời dựa vào căn
nhà. Nay cả hai đều đã nhuốm màu hoàng hôn. Lê Thị Lựu tự dưng nghỉ hè đến đây,
bắt được chân dung họ, bằng nét bút và màu sắc, bà mang họ vào vĩnh cửu.

 

Ông Cụ vùng Auvergne

 

Bức vẽ một thanh niên Pháp tóc hung, râu quai nón,
chân dung một người bạn của Ngô Mạnh Đức, con bà. Màu lam lục ngự trị qua chiếc
sơ-mi và những bông diên vỹ (iris) trên nền tranh. Tác phẩm lột tả sự nổi loạn
và những quằn quại nội tâm của người thanh niên: hai tròng mắt xanh trũng, sâu
thẳm trong tia nhìn hoảng sợ chiếu vào khoảng trống. Ở đây Lê Thị Lựu trổ tài
sâu sắc hội họa dấu hiệu, phong thái Van Gogh, qua những nét hoang dại khốc
liệt. Xem tranh khó có thể đoán tác phẩm là của một nữ họa sĩ, lại càng không
thể là bút pháp mềm mại, dịu dàng mong manh của Lê Thị Lựu trong những bức tranh
lụa.

 

Phẫn nộ

 

Trong những bức chân dung thành công nhất của Lê Thị Lựu phải kể
đến chân dung Cụ Quế, , ba bức khác nhau, bức nào họa sĩ cũng mô
tả tâm trạng u sầu miên viễn của cha mình: một niềm nuối tiếc khôn nguôi của ông
già bỏ xứ, bỏ ba cô con gái ở lại quê nhà để sang Pháp sống trong một môi trường
khác hoàn toàn với người con gái đầu lòng. Ngày ngày cụ chỉ có nhiệm vụ duy nhất là
thổi một nồi cơm, nhưng có khi cụ quên, để cơm nát, hay cơm cháy, là thu được
lời chì chiết từ người con rể khó tính, cụ chỉ rơm rớm nước mắt.

Lê Thị Lựu đã nhìn thấy những giọt nước mắt của cha già, nhưng
chịu ràng buộc nền giáo dục xưa, bà không dám bênh cha, cãi lại chồng và đã nuốt
thầm giọt lệ rồi mang vào thơ, vào tranh. Mấy dòng thơ khóc cha, bà thảo vội trên
một mảnh giấy nhỏ, kẹp trong tập ghi chép riêng tư, không ai biết, nay đọc lại
thấy nguyên vẹn ý nghiã những lời tâm sự của bà thủa trước mà tôi đã được nghe:

 

Lựu

(Khóc Cha)

 

Cha tôi

 

Ngô Thế Tân chọn giữ lại trong sưu tập giành riêng cho Viện Bảo Tàng
Việt Nam 18 bức tranh, và 2 phiên bản, tiêu biểu cho mỗi thời kỳ hội họa của Lê
Thị Lựu.

 

Bức (Sưu tập Ngô Thế Tân tặng Bảo
Tàng Viện TP Hồ Chí Minh)bút chì trên giấy dầu (kraft, giấy gói hàng),
bà vẽ năm 1943, trong thời gian ở Guinée, một Phi Châu nghèo khổ, thiếu giấy,
thiếu sơn, khi chồng bà được bổ làm giám đốc Vườn Thử Nghiệm Thực Vật Kindia, từ
1942 đến 1945. Nét bút mạnh dạn, trần trụi, chỉ dùng hai mầu nâu, đen, để nền
giấy dầu hoàn tất sự thô thiển. Dessin thâm trầm, sâu đậm, nổi cuộn sự thống khổ
thấm trong da thịt người bị trị. Với đôi môi dày bậm lại, cổ cao gân guốc như đang
nuốt hận, ánh nhìn hầu hết vô vọng, Lê Thị Lựu đã lột tả được nỗi lầm than đau
khổ lặng thầm của người Phi Châu làm việc trong đồn điền Pháp thuộc.

 

 

 

Chân dung người Guinée

 

 

 

 

Tranh lụa, thời kỳ chuyển hoán

Trong 15 năm (1940-1955), Lê Thị Lựu có vẽ
nhưng rất ít, bà thực thụ trở lại với hội họa và vẽ đều từ năm 1956, khi ông Ngô
Thế Tân về nước làm việc.

Lúc ấy, Lê Thị Lựu vẫn có thể tiếp tục vẽ
tranh sơn dầu cũng là sở trường của bà, nhưng có vẻ bà thấy sơn dầu không diễn
tả được những nét mong manh tế nhị, như trong tranh lụa, nên đã chọn cách giao
hoà kỹ thuật tranh lụa với tranh màu nước, mà bà đã tìm thấy được và khởi đầu thể
hiện từ năm 1954, trên bức .

Lúc ấy, các họa sĩ Việt Nam ở Pháp đã hoàn tất
kỹ thuật vẽ lụa có thể đem nhiều màu sắc vào tranh, từ năm 1936, nhưng hai đàn
anh Vũ Cao Đàm và Lê Phổ đã bỏ tranh lụa để chuyển  hẳn sang tranh sơn dầu, từ
sau thế chiến.

Lê Thị Lựu lựa chọn tranh lụa, từ 1954, nhưng
không vẽ như Vũ Cao Đàm và Lê Phổ, bà đã thay đổi bút pháp, để tạo ra văn nghệ
tranh lụa của riêng mình. Trong sưu tập giành riêng cho Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành
Phố Hồ Chí Minh có hai bức tiêu biểu, trổ tài sự thay đổi bút pháp này của Lê
Thị Lựu: Bức vẽ năm 1946 và vẽ
năm 1954. Này là bút tích của sự chuyển hoán từ tranh lụa lối Tầu sang tranh lụa
Lê Thị Lựu:

 

Chị dạy em viết chữ Nho (1946)

 

Ở bức (Sưu tập
Ngô Thế Tân tặng Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh)vẽ năm 1946, Lê Thị Lựu
vẫn còn xây dựng tranh lụa theo kỹ thuật Trung Quốc nhưng đã khác tranh lụa cổ:
Các mảng một màu tách riêng, màu đã bớt lì (aplat), tuy vẫn phân tách ranh giới
màu này với màu kia, nhưng tranh đã có nhiều mầu hơn tranh cổ hay tranh Nguyễn
Phan Chánh.

 

 

 

Nhị Kiều (1954)

 

Đến bức (Sưu tập Ngô Thế Tân
tặng Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh) vẽ năm 1954, ta thấy ngay sự thay đổi bút
pháp, màu sắc và thời kì: Thúy Kiều mặc áo dài tím, Thúy Vân áo màu tro. Hai
chị em có nhan sắc người Hoa lai Việt: đôi mắt lá răm khá xếch, khuôn mặt trái
soan kiểu Tầu nhưng y phục Việt, đầu quấn tóc trần để lộ cổ quyền quý trọng như
những hoa khôi Hà thành thập niên 30-40. Kiều “tân thời” hình như đang thì thầm
vào tai Vân:

Về kỹ thuật hội họa, sự chuyển thể từ tranh
lụa cổ sang tranh lụa Lê Thị Lựu rất rõ ràng ở đây: Dessin không những thanh
thoát mà còn chuẩn xác hơn, màu không tô phẳng lì, độc sắc nữa, mà có đậm nhạt
điều hoà từ mái tóc đến màu áo, màu móng tay, màu khuy, màu vòng ngọc… Nếu ta
nhìn kỹ mái tóc: thay vì vẽ một mảng mầu đen tuyền như trong các tranh cổ hay
tranh Nguyễn Phan Chánh, kể cả tranh lụa của Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, thì Lê
Thị Lựu trong , đã làm cho mái tóc của hai Kiều có những nét tự
nhiên “như thật”, nghĩa là ta có thể phân biệt những sợi tóc trên trán Thúy Vân,
những chân tóc trên trán Thuý Kiều, ta lại thấy tóc Kiều mượt và dầy hơn tóc Vân,
báo trước một số phận gian truân hơn. Với , Lê Thị Lựu đã bước
sang kỹ thuật Ấn tượng. Tuy nhiên ấn tượng lúc đó hầu như đã hoàn tất sứ mệnh,
đã sắp sang trang, do đó tôi gọi tranh Lê Thị Lựu là .

 

Nguồn gốc của , là
khi sang Pháp nhận thấy đường lối của mình quá xưa so với trường phái Paris (École
de Paris), và những trường phái đương thời lúc ấy nhưkhông làm cho bà cảm tác, Lê Thị Lựu đã do dự và thất
vọng, bà đi vào các phòng vẽ như Chaumière ở Montparnasse tìm lại nét bút, phác
họa các người mẫu khỏa thân, rồi bà quay hẳn sang tranh lụa. Ban đầu còn vẽ theo
lối cổ, rồi bà chuyển hướng dần dần và tìm thấy đường lối tách biệt của mình.
Tranh lụa của bà, tuy có phong thái ấn tượng nhưng đã thoát ly khỏi lề lối Tây
phương, thay đổi theo tư tưởng của riêng mình, chứ không mô phỏng, bà đã sáng
tạo cho tranh một một Việt.

 

Cũng như Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Lê Văn Đệ…
trong một thời kỳ rất ngắn, Lê Thị Lựu bị tác động của Modigliani. Bức tranh (sưu tập Ngô Thế Tân tặng Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh)
lưu lại dấu ấn của thời kỳ này: Người mẹ mặc áo trắng, quấn khăn trắng, tay
choàng lên vai đứa bé gái và trong lòng người mẹ, đứa con trai nhỏ, dơ tay dụi
mắt, chắc nó khóc. Góc tranh bên trái là đoạn đường về nhà. Góa phụ mặt trái xoan,
cổ cao, nhìn xuống hai đứa con côi, thoáng trông như hình Đức Mẹ từ bi nhìn
xuống chúng sinh trên cao tầng giá thánh.

 

 

Bố mẹ con góa phụ

 

 

Tranh lụa, thời kỳ toàn bích

Trở lại với hội hoạ từ năm 1956, nhưng phải đến 1960, Lê Thị Lựu
mới hoàn toàn quản lý hội họa ấn tượng của mình, từ đây trở đi bà sáng tác nhiều
và vẽ những bức tranh đẹp nhất.

 

 

Bố mẹ con trên cỏ

 

Bức , vẽ năm 1960, xác nhận sự thành công
của bà: Bố cục tranh đã đoạt tới sự toàn bích, từ nét vẽ đến các cụ thể đều toả
sự mong manh: cá tính của Lựu cũng khởi đầu lộ ra từ bức tranh này:
chiếc khăn trên cổ người mẹ, mảnh bé gái đang tập thêu,
chiếc khăn phủ rổ mây đựng đồ thêu, toàn bộ đều như
dáng dấp người thiếu phụ Hà thành. Nàng mặc áo dài xanh, đầu vấn khăn xanh, cao
sang mà không đài các, một mẫu người lý tưởng, ta chỉ dám yêu trộm nhớ thầm mà
không dám ngỏ. Nàng bế đứa con trai đeo yếm hoa, bé gái mặc áo cánh hồng ngồi
thêu cạnh mẹ. Chiếc rổ mây để lộ hai cuộn len mầu nâu nhạt. Bố mẹ con ngồi trên
thảm cỏ, bên dòng nước ẩn hiện, xa xa thấp thoáng bóng mấy mái nhà. Toàn thể chìm
trong không gian phơn phớt, như màu phấn trên má nàng, như mầu da thơm hai đứa
bé.

Này là một toàn cầu đã qua, không khi nào trở lại: toàn cầu Tự Lực
Văn Đoàn mà Lê Thị Lựu vừa là đối tượng được các văn nhân thi sĩ mong ước, lại là
người vẽ lại cuộc sống thơ mộng thời ấy qua chân dung những trên toàn thể tranh bà.

 

Nửa chừng xuân

 

Bức (sưu tập ông bà Phạm Huy Điển), vẽ khoảng
1960-62, là một trong những thành công khác của họa sĩ. Người mẹ Hà thành đầu
vấn tóc trần, dịu dàng thân mật ôm con vào lòng, khiến ta không khỏi liên tưởng
tới Mai và bé Ái của Khái Hưng trên rừng đồi Phú Thọ trong .
Thập niên 60, Lê Thị Lựu ở thị xã Gentilly, ngoại ô Paris, trong căn nhà nhỏ có
vườn, ông Tân chồng bà là kỹ sư canh nông nên trồng đủ loại hoa quanh nhà. Bức
treo trong phòng khách tỏa ánh sáng và văn nghệ cho căn
nhà nhỏ, bà đã sáng tác trong không gian thu hẹp, rất Monet, từ hồi ấy. Rồi đến
năm 1971, khi dọn nhà xuống An Trang, bà có hẳn một villa, một cõi riêng
trong sân vườn rộng mênh mông với hoa, trái, trời, nước Địa Trung Hải.

Mầu sắc trong tranh Lê Thị Lựu phản ảnh hai không gian, hai tâm
tưởng: ánh sáng Pháp, hồn dạ Việt.

Thiếu nữ và cây đàn thập lục

 

Tranh lụa Lê Thị Lựu đặc biệt trong cách pha màu. Cũng như phái
ấn tượng, bà dùng màu tươi mát làm bật ánh sáng, lấy nhật quang làm nền rực rỡ
cho tranh, nhưng bà không chối bỏ kỹ thuật cổ kính, bà dùng cả sáng lẫn tối, rồi
chuyển sắc độ dần dần: vẽ năm 1970, bán cho
bà phó giám đốc nhà Printemps là một trong những bức tranh tuyệt đẹp của bà, phản
ảnh sâu sắc văn nghệ ấn tượng: Bóng tối tứ phía bên nàng làm ta mường tượng đây
là ban tối, nhưng toàn thân thiếu nữ khoác ánh sáng, nguyệt quang chan hòa, tràn
sang những đóa hồng thì thầm bên cạnh, một thứ ánh sáng bàng bạc, kì ảo của
một đêm trăng liêu trai. Nàng gẩy đàn dưới trăng, trong trăng, trên trăng, hay
trăng là nàng? Không sao hiểu rằng. Bức này làm tôi liên tưởng tới bức ( của Renoir,
vẽ năm 1880.

 

Bức tranh nổi tiếng nhất của Lê Thị Lựu, vì được in thành nhiều
phiên bản (reproduction) cho đơn vị từ thiện bán lấy tiền, là bức
(Sưu tập Ngô Thế Tân tặng Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh). Tác phẩm này treo trong
phòng khách villa An Trang, không bán. Sau thời điểm bà mất, ông Ngô Thế Tân để
dành riêng cho Bảo Tàng Viện ở Việt Nam. Người thiếu phụ rất trẻ mặc áo dài trắng,
đội khăn trắng. Nét mặt mang cả một trời dịu dàng thân mật. Vai địu con, vải địu
mầu vàng, nàng đi trong rừng thưa, ánh vàng dội lên báo hiệu mùa thu đất Bắc.

 

Mẹ địu con

 

Bức tranh này bà đã vẽ trong thập niên 1965-75, thời gian kiện
toàn tranh lụa ấn tượng Lê Thị Lựu, có bố cục hầu như toàn bích, không khác gì
những bậc thầy của ấn tượng như Renoir, nhưng bà vẽ trên lụa, nên đôi chỗ bút
pháp còn mong manh, tế nhị hơn tranh sơn dầu của những bậc thầy. Người đẹp trong
tranh Lê Thị Lựu có những mẫu mực lý tưởng, đúng như khuôn mẫu cổ kính: mặt trái
xoan, cân đối theo tỉ lệ vàng.

Cũng đề tài này, bà vẽ bức (sưu tập
Thụy Khuê-Lê Tất Luyện tặng Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh) khoảng 1970-75, tươi
sáng hơn, người thiếu nữ miền núi mặc áo trắng, khăn trắng, váy đen, chừng là
một cô gái Thái, địu em đi chơi trong rừng, mầu sắc tung cất cánh, gam vàng ngự trị
trên toàn cảnh, gợi nhớ thơ Bích Khê

Sơn nữ địu em

 

Đặc biệt bức (sưu tập Thụy Khuê- Lê Tất Luyện tặng
Bảo Tàng Viện TP Hồ Chí Minh) là một thành công khác của bà. Trong tác phẩm này
Lê Thị Lựu tung hoành mầu sắc, tự do hầu hết tuyệt đối. So sánh với những bức
tranh lụa thời trước, mới thấy tranh lụa Lê Thị Lựu bấy giờ, đi xa đến ngần nào:
người sơn nữ trong mặc áo chàm, ngoài thêm chiếc áo cánh trắng ngắn tay, tóc thắt
băng hoa, đôi mắt mộng sầu giữa rừng hoa: sau nàng mai vàng chen chúc, chẳng
biết tay nàng cầm bó cẩm chướng trắng hồng, hay nàng ở trong bụi cẩm chướng.
Miệng mỉm cười nhưng mắt buồn, buồn lắm. Ở đây, Lê Thị Lựu đã trổ tài không
những sự hài hoà và giầu sang mầu sắc, mà còn cả nét tương phản giữa rừng hoa cười
và thiếu nữ buồn, giữa cơ man màu sắc và người sơn nữ đơn côi. Những mong manh,
tế nhị trong bút pháp của Lê Thị Lựu đã tự chúng tạo ra một môi trường mỏng như
tơ, vương như sương khói, hư hư thực thực, không biết trong cõi mộng nào. Càng
ngắm thần thái bức tranh càng toát ra vẻ lạ, thu hút ta như nét đẹp trinh nguyên
chưa ngấm bụi trần.

 

 

 

 

Sơn nữ

 

*

 

Lê Thị Lựu thường phân vân khi cầm bút, nhiều khi vẽ xong lại xóa
đi, có bức vẽ đi vẽ lại trong mấy năm trời như …, có bức chỉ một buổi là xong, mà thông thường
là những bức thành công, hoặc tiêu biểu cho đường lối hội họa của bà như

 

Anh Trần bên suối

 

Nhà điêu khắc Anh Trần nổi tiếng là người đẹp và có tài, ở Paris.
Lê Thị Lựu đã từng vẽ chân dung Cô An, thân mẫu của Anh Trần thập niên 1930,
cũng là một giai nhân thủa trước. Tác phẩm , sẽ được lưu
lại như sự cộng hưởng của ba nét đẹp: giai nhân, tài tử và văn nghệ.

Đề tài ba thế hệ được Lê Thị Lựu vẽ nhiều lần. Bức tranh hoàn tất
cuối cùng của bà cũng trong đề tài ấy.  

 

 

Tam đại đồng đường, bức tranh cuối cùng của Lê Thị Lựu (1988)

 

 

một trong những
tác phẩm nổi trội những năm cuối đời, bà vẽ cuối thập niên 1980, vẫn dùng ánh
sáng làm nền giao cảm, từ những màu xanh đậm, hồng đào, vàng mimosa, trên hoa cỏ,
bà hạ dần sắc độ để lưu lại màu trắng mong manh trên áo nàng Kiều, với đôi mắt
bồ câu đen, hiu hắt sáng, gợi tiếng đàn trong, buốt, lạnh và buồn:

Kiều gảy đàn tỳ bà

 

 

Tranh là bức tranh lớn nhất và bà vẽ lâu
nhất, xuất phát điểm từ năm 1975, cho đến thập niên tám mươi vẫn chưa xong, thỉnh thoảng
bà vẫn chữa lại và cuối cùng bà vẫn chưa vừa ý lắm. Bức tranh trổ tài lối viễn
họa (perspective): Dưới cầu, dòng suối thướt tha uốn khúc tới tận chân rừng. Con
đường mòn chạy xuôi theo dòng nước. Bóng sâu hút lặng thinh của đoạn đường và âm
thanh thầm thì, róc rách của dòng suối trò chuyện với nhau trên những đường cong
(arabesque) mềm mại, gợi thanh, gợi hình, giao hòa nơi vô tận. Toàn bộ gieo ấn tượng
gặp mặt và chia tay: Đường im nghe suối nói hộ người những xao xuyến, luyến lưu
thuở ban đầu.

 

 

Kim Kiều gặp mặt

 

Tranh khỏa thân bà chỉ thực hiện có một bức và
một chân dung (bà Đ. đặt treo trong phòng ngủ) mà cũng lắm.
Bức (sưu tập Thụy Khuê – Lê Tất Luyện tặng Viện Bảo
Tàng TP Hồ Chí Minh), khoảng 1970-1971. Bà đắn đo lắm khi vẽ bức tranh này,
vì những lời phê bình gắt gao của chồng cũng là họa sĩ nghiệp dư, làm bà nhụt
chí. Cuối cùng bà quyết định đặt nàng trên cầu, bên bờ ao sen, dùng nền xanh non
tươi mát, lót thảm cỏ hoa, vài cánh sen phớt hồng trôi trên mặt nước, như ẩn như
hiện. Người con gái ngồi nghiêng, tóc ươn ướt xõa, quay đầu lại, khăn lụa mỏng
che một phần thân hình, úp mở, đợi chờ. Hình như cỏ hoa, mây, nước cũng muốn
tắm chung với nàng, trong màu xanh non bất tuyệt ấy.

 

Thiếu nữ tắm hồ sen

           

Bức tranh một bé gái ngồi dưới trời dông. Bà yêu
quý lắm, không bán và treo cạnh giường bà. Đôi mắt bé là cả một trời lo âu, thắc
mắc. Họa sĩ không đặt tên cho bức tranh. Lần trước hết nhìn thấy, tôi gọi là . Bà tán thành. Bé đi lạc chăng? Bé đợi ai đây? Dông tố bên ngoài có cao
bằng dông tố đang lên trong lòng bé?

 

Dông tố

 

 

(sưu tập Ngô Thế Tân tặng Bảo Tàng Viện Mỹ Thuật TP Hồ Chí Minh) là một trong
những bức tranh hiếm hoi diễn tả tuyệt vời hội họa dấu hiệu của bà, không khốc
liệt kiểu Van Gogh mà dịu dàng êm ái như thơ.

Theo Ngô Thế Tân, Lê Thị Lựu đã sáng tác trong
một chiều nhớ quê hương. Nhưng khi đọc kỹ những ghi chép bà để lại, hợp cùng
những lời tâm sự bà ngỏ trong nhiều năm gần cận, và nhìn lại hàng rào bé gái
ngồi, đúng là tường villa An Trang, tôi mới hiểu rằng, bức tranh mà bà yêu
quý nhất, luôn luôn treo cạnh giường, không bán cho ai, còn trổ tài tâm sự của
chính bà qua những dòng thơ tan tác:

(Vô đề 3)

 

Người phụ nữ tài hoa ấy, ngoại hình tưởng có đời
sống tràn ngập hạnh phúc, nhưng trong thâm tâm lại là người đàn bà “sinh nhầm thế
kỷ”, số phận nhiều ngang trái. Từ nhỏ bị tập luyện trong giáo lý Khổng Mạnh
của gia đình nhưng trong thâm sâu vẫn là một tâm hồn “nổi loạn”. Tự học vẽ trong
khi các em ngoan ngoãn vào trường Sư Phạm. Lập gia đình với một người chồng Tây
học, rất đẹp đôi, nhưng hơn một lần bà phải chịu đựng -từ người họa sĩ nghiệp dư
tự coi là thầy- những hạch sách vô lý, những phê phán gay gắt hội họa của bà. Nhiều
khi bà cầm bút mà mắt đẫm lệ. Ra đi, tưởng chỉ tiếp xúc với văn nghệ hiện đại
của Pháp rồi về, nhưng chiến tranh ngăn chặn, đã phải sống cả đời bên Pháp.
Người họa sĩ tài hoa đó đang là nhà thơ và những câu thơ viết vội ghi vào sổ hay
trên những mảnh giấy nhỏ, cho thấy một tâm hồn luôn luôn hướng về quê cũ, nhớ
các em, nhớ mẹ cha, nhớ ngày rời nước:

 

 (Nhớ các em)

 

 

 (Nhớ cha mẹ)

 

Chiếc cầu Trầm thôn Thổ Khối, Bắc Ninh; hình
dáng người cha đứng trên cầu đợi bốn cô con gái có tên thảo mộc: cô Lựu, cô Cẩn
(cây bầu) cô Chương (cây chương não) cô Đào, đi học ở Hà Nội về. Toàn bộ những
hình ảnh ấy đều lẩn khuất trong tranh Lê Thị Lựu như một niềm thương nhớ quê
hương vô tận.

Năm 1975, quốc gia thống nhất, Lê Thị Lựu trở
về Hà Nội thăm quê hương gia đình, đợi chờ một niềm hạnh phúc, nhưng tình cảnh
bày ra trước mắt khiến bà vô cùng thất vọng. Trở lại Paris bà tâm sự với người
bạn tri kỷ thiết nhất, bà C. đồng chí cùng hoạt động bao nhiêu năm trời. Không ngờ
những lời ấy được đồn đại và thổi phòng, bà trở thành một kẻ “phản động” không
thể có visa trở về lần nữa: chiếc điểm kết nối với quốc gia đã vĩnh viễn bị cắt đứt.   

Vì vậy, tranh Lê Thị Lựu có màu vui, nét sáng
mà vẫn thoảng buồn, như một vết thương đời không thể xoá: em bé hái hoa đồng
biếu mẹ, thiếu nữ cõng em rong chơi trong rừng, thiếu phụ bồng con, ánh nhìn hiền
hòa thân mật… có gì hòa bình, an lạc, êm đềm như thơ, mà vẫn buồn buồn: Một chốn
đào nguyên chôn mộng dữ chăng? Ta cứ việc đi vào, đắm chìm trong khung trời, trong
ánh sáng, trong thanh sắc, trong yêu thương, trong trông mong… không cần thắc mắc
hỏi xem: bút thuật có trổ tài những , cũng
không cần biết nghệ sĩ có màng tới những của tạo vật.

Người nghệ sĩ ấy đã sống trong khoảng trời
Việt Nam đầu thế kỷ và đã khuất ly quốc gia vào những năm 40. Bà đem khí quyển
tâm hồn, đem cái rất Hồ Dzếnh ấy nhuộm với những nét u
hoài của tỉnh nhỏ Gentilly, với màu vàng thu đất Pháp.

Tranh Lê Thị Lựu tằng tịu với thiên đường Việt
Nam thơ mộng đài các tiền chiến xa biệt, thời , ẩm thêm sắc thái nghiêm đài nhìn về đất cũ của những người cách nước
lâu ngày, có
như lời Hồ Dzếnh. Gần gụi với tâm tư chiều Hồ Dzếnh, tranh Lê Thị Lựu dấy lên ; làm cho
ai đó, mỗi lần tìm đến tác phẩm Lê Thị Lựu, lại thấy vang lên những .

 

Yên Cơ, tháng 7-1988, tiễn họa sĩ ra đi

Paris, những ngày sửa soạn mang tranh hoạ sĩ về nước, tháng 2/2018

Thụy
Khuê



 



Nguyễn Gia Trí viết: “. (Trích thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai
Thọ Truyền, Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa Việt Nam Cộng Hòa, Saigon ngày
13/1/1970). Vì ông Trí đã bỏ trường từ năm thứ ba, tức là năm 1929, và ông
cho biết nhờ xem tranh của Trần Quang Trân trưng bày, mới vào học lại, thì
ta có thể đoán là năm 1932 (theo nội dung
chứ không phải năm 1935-40 như ông Trí nhớ lầm, và ông học thêm hơn 2 năm
nữa, tức là ông ra trường khoảng 1935-1936, khoá VI hay khoá VII.

© 2018 Thụy Khuê

See also  Cách tính mét vuông đất đơn giản, chuẩn xác