An sinh xã hội là gì? Bản chất, vai trò và ý nghĩa của an sinh xã hội? Bản chất của an sinh xã hội. Tính năng và ý nghĩa của an sinh xã hội.

Tiến trình đổi mới quốc gia đã mang lại nhiều thành tựu trọng yếu về kinh tế và xã hội, trong đó có việc củng cố và hoàn thiện hệ thống quyết sách về an sinh xã hội. Đây là một trong những nội dung trọng tâm để xây dựng quốc gia vững mạnh. Vậy An sinh xã hội là gì?

1. An sinh xã hội là gì?

Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội so với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn theo ngừng hoặc giảm thu nhập. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội.

Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và phong phú của an sinh xã hội nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về an sinh xã hội cũng còn tương đối khác biệt giữa các quốc gia.

2. An sinh xã hội trong tiếng Anh là gì?

Theo tiếng Anh, an sinh xã hội thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài an sinh xã hội thì thuật ngữ này còn được dịch là đảm bảo xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo vệ và đồng đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…

Theo nghĩa này thì tầm “ bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, độc thân, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo nàn và những người bị thiên tai, dịch hoạ…

Theo chúng tôi, an sinh xã hội mà tất cả chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này. Bên cạnh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học mang ra những khái niệm rộng- hẹp khác nhau về an sinh xã hội, ví dụ:

– Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-1963), an sinh xã hội là sự đảm bảo về việc làm khi người ta còn sức làm việc và đảm bảo một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.

– Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, an sinh xã hội được hiểu tổng quan hơn, này là sự đảm bảo của xã hội, nhằm bảo tồn tư cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho nhân loại một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ.

Để dễ thống nhất, theo chúng tôi nên dùng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội so với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Xem thêm: Các quyền lợi an sinh xã hội

Như vậy, về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.

3. Bản chất của an sinh xã hội

Thứ nhất, ASXH là triệu chứng rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận

Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó. Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho toàn bộ mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng ngân sách đột xuất trong tiêu xài của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, có thể thực hiện đảm bảo an sinh cho mọi tầng lớp dân cư, ASXH dựa trên phép tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bình xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau.

Thứ hai, ASXH trổ tài chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp

Mỗi người trong xã hội từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau… là những triệu chứng khác nhau của một hệ thống giá trị xã hội. Nhưng vượt lên trên toàn bộ, với tư cách là một công dân, họ phải được đảm bảo mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo… ASXH tạo cho những người xấu số, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy thiết yếu để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng.

ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi nhân loại, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt khác, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là yếu tố tạo ra sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo ra một cuộc sống công bình, bình yên.

Thứ ba, ASXH trổ tài truyền thống đoàn kết, trợ giúp lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng

Sự đoàn kết, trợ giúp lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, trợ giúp những người xấu số là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của nhân loại, đảm bảo cho một xã hội phát triển lành mạnh.

Xem thêm: Tình huống về cơ chế an sinh xã hội dành riêng cho thương binh và gia đình

4. Tính năng và ý nghĩa của an sinh xã hội

Một là, đảm bảo thu nhập ở mức tối thiểu

Đây là tính năng cơ bản nhất của an sinh xã hội. An sinh xã hội có vai trò phân phối (có điều kiện hoặc không có điều kiện) mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) đảm bảo quyền sống tối thiểu của nhân loại, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ nhân loại khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro

Nền tảng của đảm bảo an sinh xã hội là quản lý rủi ro, bao gồm:

(i) Phòng ngừa rủi ro: trợ giúp người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên;

(ii) Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và

(iii) Khắc phục rủi ro: trợ giúp kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các thúc đẩy không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm tra do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh, và môi trường tự nhiên và đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của người dân.

Ba là, phân phối thu nhập

Một trong những tính năng trọng yếu của an sinh xã hội là đảm bảo thu nhập cho những người/nhóm đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập. Các quyết sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm “người trẻ đóng – người già hưởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “người khỏe đóng – người ốm hưởng” trong bảo hiểm y tế trổ tài rõ tính năng chia sẻ rủi ro, phân phối lại thu nhập của an sinh xã hội, ngay cả khi phân phối không dựa trên sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng như khả năng đảm bảo của ngân sách nhà nước.

Bốn là, xúc tiến việc làm vững bền và phát triển thị trường lao động

Hệ thống an sinh xã hội xúc tiến việc làm vững bền, tăng cường tuyệt kỹ và các cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động thông qua việc:

(i) trợ giúp huấn luyện nghề cho người lao động (đặc biệt người nghèo, người nông thôn…);

(ii) phát triển thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm để kết nối cung và cầu lao động, giảm thiểu mất cân đối cung và cầu lao động;

(iii) trợ giúp tạo việc làm trực tiếp cho một phòng ban người lao động thông qua các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chương trình việc làm công và các chương trình thị trường lao động khác;

(iv) trợ giúp chuyển hóa việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, lao động bị thúc đẩy bởi khủng hoảng kinh tế…

Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, xúc tiến gắn kết xã hội và phát triển xã hội

Một hệ thống an sinh xã hội được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần trọng yếu vào sự phát triển của mỗi quốc gia, rõ ràng và cụ thể như sau:

– Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội

Như trên đã nêu, an sinh xã hội là một trong 3 cấu phần của quyết sách xã hội, là một trong những hệ thống chương trình, quyết sách trọng yếu để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Do vậy, an sinh xã hội là dụng cụ quản lý của nhà nước trong ngành nghề phân phối và điều tiết phân phối. Thông qua quyết sách thuế và các quyết sách chuyển nhượng xã hội, nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cư và các thế hệ.

– Xóa đói giảm nghèo, giảm bất đồng đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư.

Mục tiêu trước hết của an sinh xã hội là giảm nghèo, giảm bất đồng đẳng và phân hoá giàu nghèo. Nhà nước thông qua quyết sách trợ giúp người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo ra sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất đồng đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo ra sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội.

– Góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội

Thông qua trợ giúp người nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất đồng đẳng… an sinh xã hội nâng cao nguồn vốn nhân loại, tăng cường cơ hội và phát triển nhân loại và tăng cường sự hòa nhập…, là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, vững bền và tăng cường gắn kết xã hội.

Sáu là, trợ giúp người dân vượt qua khủng hoảng

Các nước đang phát triển ngày càng có nhu cầu thiết kế và phát triển hệ thống an sinh xã hội nhằm trợ giúp người nghèo và người yếu thế trong cục diện khủng hoảng kinh tế và các biến động có phạm vi người dân bị tác động mạnh do: số lượng các chương trình an sinh xã hội hạn chế, chưa thỏa mãn nhu cầu về an sinh của người dân. Phạm vi bao phủ của quyết sách an sinh xã hội bị hạn chế, chỉ phục vụ cho một nhóm dân cư, thông thường là nhóm dân cư “khỏe hơn, tốt hơn” trong xã hội.

Tổng kết: Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa quản lý hoạt động của quỹ BHXH và các quỹ ASXH khác, đảm bảo sự công bình, đồng đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước – người tiêu dùng lao động – người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế – xã hội. ASXH, thông qua các cơ chế của mình, góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần đảm bảo sự công bình xã hội.

See also  2021 (2021) ♻️ Wiki HDAD ♻️