Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.3 KB, 17 trang )

Ba chu kỳ đầu là chu kỳ nhỏ, trong đó chu kỳ 1 chỉ 2 nguyên tố, bốn chu kỳ sau là

chu kỳ dài.

6.1.2. Nhận xét

Bảng tuần hoàn dạng bảng ngắn có nhiều ưu thế:

– Phản ánh tốt nhất mọi mối liên hệ trọng yếu nhất giữa các nguyên tố.

– Nêu lên được sự tuần hoàn nội tại trong một chu kỳ.

– Sự phân tách phân nhóm phụ và chính nêu lên được sự khác nhau về tính chất giữa

các nguyên tố của các phân nhóm nhưng cũng nêu lên được sự giống nhau về số oxi hóa

của chúng thì bằng với số nhóm.

Tuy vậy, bảng tuần hoàn dạng ngắn vẫn còn thiếu sót:

– Các Lantanit và Actinit trên thực tiễn bị đưa ra ngoài hệ thống chung và không cho

thấy mối liên hệ hữu cơ với các nguyên tố khác trong hệ thống.

– Không phản ánh được sự phát triển liên tục trong một chu kỳ (với các chu kỳ lớn).

– Không nêu được đầy đủ mức độ liên quan giữa các nguyên tố trong cùng một nhóm.

Hình 6: Bảng tuần hoàn dạng ngắn

9

6.2. Bảng tuần hoàn dạng bảng dài

6.2.1. Kết cấu

– Nhóm, phân nhóm

Những nguyên tố mà trong nguyên tử, electron cuối cùng điền vào phân mức s hoặc p

của lớp lượng tử ngoài cùng (nguyên tố s hoặc p) thì hợp thành những nguyên tố thuộc

nhóm A, là những nguyên tố điển hình.

Các nguyên tố có electron tiếp theo điền vào phân lớp d hoặc f gọi là các nguyên tố

nhóm d hoặc f, thuộc nhóm B, là các nguyên tố kim loại chuyển tiếp.

– Chu kỳ

Hệ thống tuần hoàn được trải theo hàng ngang, mỗi chu kỳ chỉ có một hàng, và các

họ nguyên tố s, p, d, f được sắp xếp liên tục nhau. Đầu chu kỳ các nguyên tố khởi đầu xây

dựng phân lớp ns, cuối chu kỳ các nguyên tố kết thúc việc xây dựng phân lớp np.

Hình 7: Bảng tuần hoàn dạng bảng dài

6.2.2. Nhận xét

Bảng tuần hoàn dạng dài không gọn và chặt chẽ bằng dạng ngắn nhưng có ưu thế là

phản ánh được rõ ràng sự phân tách các họ nguyên tố theo dấu hiệu cấu hình electron.

Các nguyên tố nhóm A hoặc B, nguyên tố s, p, d, f đều tập trung lại một chỗ nên rất đễ

nhận xét, tra cứu.

10

6.3. Bảng tuần hoàn dạng tháp

Dạng này đã khắc phục được đáng kể những thiếu sót đã nêu so với các dạng kể trên.

Về dạng này có 2 kiểu đáng Note:

– Kiểu bảng do N.Bo thông báo, kiểu này bao gồm một cách tự nhiên các họ Lantanit và

Actinit.

– Kiểu bảng do Necraxop hoàn thiện từ kiểu bảng của Bo.

See also  Lịch Thi Đấu Bóng Đá Nữ Olympic - Lịch thi đấu Olympic 2016, xem trực tiếp bóng đá Olympic ... / 2 đội bóng dẫn đầu mỗi bảng đấu sẽ lọt vào vòng đấu loại.

Hình 8: Bảng tuần hoàn dạng tháp

Hình 9: Bảng tuần hoàn dạng vòng

6.4. Bảng tuần hoàn dạng vòng

6.4.1. Kết cấu

Các vòng tròn đồng tâm tương ứng với các lớp e khác nhau. Hệ thống các vòng tròn

tạo thành các chu kỳ. Các nguyên tố trong nhóm được phân bố theo các bán kính. Các chữ

số Ả rập chỉ các chu kỳ, số La Mã chỉ các nhóm. Các Lantan được phân bố vào toàn bộ các

nhóm trừ nhóm I và II.

6.4.2. Nhận xét

Hệ thống này có ưu thế là phản ánh được kết cấu các lớp electron s, p, d, f trong

nguyên tử các nguyên tố và sắp xếp được ổn thỏa vị trí của hidro.

Tuy nhiên nó vẫn tồn tại một số nhược điểm:

– Toàn bộ các nguyên tố trong một chu kỳ được phân bố trên một vòng tròn, nó không

trổ tài được sự thay đổi tính chất giữa các nguyên tố từ kim loại điển hình đến các á kim

điển hình và kết thúc là khí trơ.

– Toàn thể hệ thống này rất không cân đối, phức tạp, khó theo dõi. Ở một nửa vòng

tròn tập trung hầu như các nguyên tố từ nhóm I đến VII, còn nửa kia chỉ gồm các nguyên

tố nhóm VIII.

6.5. Bảng tuần hoàn dạng xoáy ốc

5.5.1. Kết cấu

Hydro được xếp vào tâm của hình xoáy ốc với ý nghĩa toàn bộ các nguyên tố đều được

xây dựng nên từ các hạt cơ bản và hydro là nguyên tố cơ bản nhất. Trong hệ thống, hydro

được xem như là nguyên tố tương đồng với các nguyên tố nhóm I và VII.

11

Đường xoáy ốc được chia thành 8 khu vực, mỗi nhóm nguyên tố được chia thành một

khu vực. Mỗi nhóm nguyên tố gồm 2 phân nhóm chính và phụ.

Ở nhóm IV tính chất của các nguyên tố thuộc phân nhóm chính và phụ giống nhau

nhiều nhất. Càng xa nhóm IV về phía nhóm I và VIII, tính chất của các nguyên tố thuộc

hai phân nhóm đó càng khác nhau. Điều đó được trổ tài bằng những góc khác nhau giữa

các bán kính trên đó sắp xếp các nguyên tố của hai nhóm.

Toàn bộ các nguyên tố trong hệ thống được sắp xếp trên những đường xoáy ốc, điều đó

phản ánh tính chất biện chứng của định luật tuần hoàn. Cuối mỗi chu kỳ và khởi đầu một

chu kỳ mới có sự chuyển lên một vòng mới.

6.5.2. Nhận xét

Dạng xoáy ốc ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của dạng vòng.

Cách trình diễn định luật tuần hoàn theo dạng xoáy ốc có nhiều ưu thế, nó trổ tài

một cách khá đầy đủ và đúng đắn định luật tuần hoàn. Tuy vậy trên thực tiễn dạng này

không thông dụng nhiều vì ít thuận tiện.

Nhìn chung, các dạng kể trên đều có thể sử dụng để trình diễn định luật tuần hoàn.

See also  Xổ Số Cần Thơ hôm nay - xo so truc tiep can tho

Mỗi dạng đều có những ưu thế riêng và những thiếu sót riêng.

Nhiều ý kiến cho rằng dạng ngắn kinh điển là dạng hoàn hảo nhất tuy vẫn có những

thiếu sót nhất định. Nó là một mẫu mực về tính hệ thống, nó phản ánh một cách sâu sắc

mọi mối liên hệ trọng yếu nhất của các nguyên tố, về hình thức dạng này lại cân đối, gọn

nhẹ, và dễ sử dụng. Đặc biệt trong công tác giảng dạy thì dạng ngắn tỏ ra có thuận tiện hơn

cả.

7. Nhận xét vai trò của Định luật tuần hoàn Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa

học

Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn là hiến dâng trọng yếu nhất của

Mendeleep trong sự phát triển khoa học tự nhiên.

7.1. Đính chính lại các dữ kiện sai lầm và đi sâu tìm hiểu

Dựa vào định luật tuần hoàn, Mendeleep đã đính chính lại khối lượng nguyên tử và

hóa trị của nhiều nguyên tố trước
đó bị xác nhận sai

Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleep kích thích các nhà bác học phải tìm

hiểu nguyên nhân tính chất các nguyên tố lặp đi lặp lại một cách tuần hoàn, tìm hiểu ý

nghĩa bên trong của các khái niệm “nhóm”, “phân nhóm”, “chu kì”, “số thứ tự nguyên

tố”, “số thứ tự chu kì”… Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố cũng kích thích sự tìm hiểu

nguyên nhân kéo theo sự không thích hợp của hóa trị của một vài nguyên tố với số thứ tự

nhóm của chúng. Kết quả là kéo theo việc tìm hiểu kết cấu nguyên tử các nguyên tố và đã

tìm thấy sự giải thích dựa vào kết cấu.

7.2. Tiên đoán tính chất của nhiều nguyên tố chưa tìm thấy

Khi xây dựng bảng tuần hoàn trước hết, người ta mới chỉ nghe đến 63 nguyên tố, như

vậy trong bảng tuần hoàn còn tồn tại nhiều ô bỏ trống. Mendeleep cho rằng này là vị trí của

những nguyên tố chưa biết.

12

Dựa vào định luật tuần hoàn, Mendeleep đã phán đoán được tính chất của nhiều nguyên

tố và đặc biệt mô tả cặn kẽ tính chất của của 3 nguyên tố là eka-bo (giống bo), eka-nhôm,

eka-silic. Chỉ 15 năm sau, người ta đã lần lượt tìm thấy 3 nguyên tố với những tính chất

trùng hợp kì quái với phán đoán của Mendeleep.

7.3. Hướng dẫn tìm thấy những nguyên tố mới

Trước đó người ta coi việc tìm thấy những nguyên tố mới là hoàn toàn ngẫu nhiên.

Định luật tuần hoàn đã vạch ra một phương hướng cho các nhà bác học. Định luật tuần

hoàn đã mở đường cho việc phân tích, phát triển lý thuyết về kết cấu chất, phân tích

hiện tượng phóng xạ… Mendeleep đã mang triết lí về nguyên tử và nguyên tố lên mức

See also  Bấn loạn trước bảng màu nhuộm tóc nam không cần tẩy hot trend 2020-2021

độ phát triển cao. Trong nhiều thế kỉ, triết lí nguyên tử và nguyên tố phát triển biệt

lập với nhau và lần trước hết Mendeleep đã thống nhất hai triết lí này là một. Theo ông,

nguyên tố chỉ là một dạng xác nhận của nguyên tử. Không dừng lại ở đó dạng này của các nguyên

tử được đặc trưng bởi vị trí xác nhận trong hệ thống các dạng đó, nghĩa là trong hệ thống

các nguyên tố.

Ngày nay, trong việc phân tích pha chế các nguyên tố nhân tạo, định luật này vẫn

đóng vai trò là dụng cụ hướng dẫn.

7.4. Về mặt sư phạm

Định luật tuần hoàn giúp cho việc học tập hóa học một cách có quy luật và hệ thống

7.5. Về mặt triết học

Định luật tuần hoàn là một định luật tổng quát của tự nhiên, là sự phản ánh một cách

đầy đủ và sáng tỏ mối liên hệ giữa các nguyên tố hóa học, sự thay đổi từ nguyên tố này

sang nguyên tố khác. Khi “lượng” proton trong hạt nhân thay đổi, thì “chất”, nghĩa là bản

Hóa chất của nguyên tố cũng thay đổi. Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của

Mendeleep cũng trổ tài sự thống nhất giữa cái toàn thể và cái riêng rẽ trong mối quan hệ

của cả hệ thống và từng nguyên tố tách biệt.

Định luật tuần hoàn là một nền tảng vững chắc của toàn cầu quan duy vật biện chứng. Nó

đã chứng tỏ rằng vật chất tự nhiên phải phát triển, thường xuyên trở nên phức tạp, đã đập

tan ý kiến duy tâm về sự phát sinh của toàn cầu và nhất định rằng, chỉ có phép duy

vật biện chứng mới khắc phục đúng đắn các vấn đề khoa học.

Từ khi ra đời, định luật tuần hoàn luôn luôn là một dụng cụ sắc bén trong phân tích

hóa học và các nghề khoa học khác, ngày càng được củng cố và nâng cao giá trị.

Viên sĩ Liên Xô A.E. Phesman đã nhận xét về Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của

Mendeleep như sau: “Những thành tựu đang được nở rộ ở khắp mọi chỗ, nơi mà các nhà

bác học đang ứng dụng Định luật tuần hoàn của Mendeleep để phân tích những hiện

tượng tự nhiên”

Nhà bác học Đan Mạch Ninsbo gọi Hệ thống tuấn hoàn là “ngôi sao chỉ đường trong

việc nghiên cứu hóa học, vật lí, khoáng vật học và kĩ thuật”

Định luật tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleep là phát hiện có tính cách

mạng trong ngành nghề hoá học. Sau đó, Mendeleep cũng từng dự kiến tiếp tục phân tích

làm rõ nguyên nhân viên biến hoá có tính tuần hoàn về tính chất của các nguyên tố theo

13